Nov 5, 2012

Posted by in Giáo điển | 37 Comments

NGỘ NHẬN (Bài mở)

NGỘ NHẬN (Bài mở)


KỲ 1: NGỘ NHẬN: TỪ ĐỜI ĐẾN ĐẠO

Trong thực tế cuộc sống có nhiều sự ngộ nhận khác nhau. Một người vợ giỏi bán buôn, kiếm ra nhiều tiền, hết sức được lòng bên chồng. Ai cũng tưởng chắc anh chồng may mắn quá! Chính người chồng mới thấm thía nỗi nhục của kẻ được coi là “ở nhà phụ vợ”. Người ngoài ngộ nhận điều này, thậm chí không ít đàn ông mong có được một người vợ như thế. Tuy nhiên, họ không hiểu “ở trong chăn mới biết chăn có rận”.

              Một người chồng trí thức là một học giả mà kiến thức của anh ta được mọi người ngưỡng mộ. Những lời nói của anh ta đưa ra những ái ngữ thiện lành, quan hệ cư xử đúng mực trong giao tiếp xã hội. Song, chỉ có người vợ của anh ta mới âm thầm chịu đựng vì tính sĩ diện, háo danh và “vác tù và hàng tổng” của chồng mình. Người ta đã ngộ nhận cặp vợ chồng vì không thấy thực chất của hôn nhân căn bản nhất là hạnh phúc.

             Một chị thường đến chùa tụng kinh mỗi tối, đều đặn, lại trường chay đã lâu. Ai cũng tưởng chị ấy an lạc, đời sống hạnh phúc, con cái ngoan lành cho đến khi tình cờ nhiều đạo hữu tìm tới nhà mời đi làm từ thiện, nghe vọng ra những lời chửi rủa của chị đối với ông chồng. Hàng xóm kể rằng, ông ấy chịu không nỗi bỏ nhà đi tu ở một chùa nọ. Sau đó, chịu không nỗi phải quay về nhà. Người con trai đầu không hợp tánh với người mẹ, thường sang nhà bên tâm sự, định thuê nhà khác ở tránh khỏi nghịch cảnh này.

              Một chị khác nhờ phước báu kiếp trước, nay là chủ của gần 50 phòng cho thuê tại thành phố Vũng Tàu. Chồng chết, chị buồn lắm liền vào chùa kia tụng kinh mỗi tối. Những người ở trọ cho hay cứ mỗi 2 tháng chị tăng giá phòng 1 lần, bất chấp hợp đồng đã ký 6 tháng. Mỗi lần như vậy chị viện đủ lý do, vẻ vời ra đủ thứ chuyện để ngụy biện cho hành vi “chèn ép” của mình.

              Những trường hợp ngộ nhận mà tôi nêu trên đều có địa chỉ cụ thể, tai nghe mắt thấy rõ ràng. Tuy nhiên, những ngộ nhận này chỉ là trên bình diện thế gian để lại hậu quả, chỉ một đời này. Song, nếu ngộ nhận về kinh điển nhà Phật, theo đó mà làm, sẽ không những không được gì mà còn hại cho thân căn huệ mạng cả ngàn kiếp sau. Điều này đã được Phật khuyến cáo trong nhiều kinh, trong đó có Đại Bát Niết Bàn, Thủ Lăng Nghiêm…

              Tướng trạng ngộ nhận về phương diện này là khi người ta chấp nhặt vào cái bề ngoài quá sức hoàng tráng mà quên đi bản chất của sự vật, hiện tượng. Một kinh được đưa vào ĐẠI CHÁNH TÂN TU ĐẠI TẠNG KINH liền cho đó là chánh pháp. Hằng ngàn năm như thế mà làm theo, chưa bao giờ tự hỏi kinh này thực sự là kim khẩu của Phật hay không? Người lựa chọn đưa vào là thánh chăng? Do thái độ “nô lệ tâm linh”, hoặc giả như bị truyền thống vô minh đã lâu làm bóng cao cây cả, cứ ở chùa làm sao mình làm vậy; cứ vị sư bảo gì thì cứ nghe theo, nên “y giáo phụng hành”.

                 Do biết trước thế nào rồi cũng bị tà ma ngoại đạo đội lốt tà sư, luồn vào Tăng đoàn, miệng giảng kinh Phật mà làm chuyện tà vạy, cho nên Phật dạy trong kinh Đại Bát Niết Bàn, phẩm Tánh Như Lai rằng nếu người Phật tử biết vị sư nào phá giới thì không nên lễ bái đừng nói chi đến việc cúng dường, dầu là họ mặc áo cà sa. Vì sao vậy? Bởi đạo Phật luôn trọng thực tế cuộc sống, nhất là Đại thừa, Mật thừa, cho nên người đã học Phật, tu Phật thì phải có đời sống tương ưng theo lời dạy của Ngài. Lẽ nào một vị sư dâm ô với phụ nữ, lừa gạt hàng tỷ đồng của thí chủ, nếu ta biết được rồi bởi bằng chứng hẳn hoi, há gì lại nghe lời giảng của vị sư ấy?

Giả sử có một học giả Phật giáo nổi tiếng, dịch được nhiều bộ kinh, viết được nhiều quyển sách, mà người ấy tiếp tay cho công ty sách lừa gạt tác quyền một cách tinh ma, ngâm ghim bản thảo nhằm gợi ý kẻ khác biếu xén lễ vật, tịnh tài, thì chúng ta có tin họ là con Phật hay con của Ma? Nên biết, Phật với Ma chỉ khác nhau một điều duy nhất: Ma là tà có nghĩa là nói viết một đường, hành động một nẻo; Phật là chánh có nghĩa là tri hành hợp nhất. Thấy biết của Phật là chánh tri, nhằm ứng dụng vào đạo nghiệp Bồ đề tâm và Giải thoát. Thấy biết của Ma là tà tri, nhằm đưa ra thủ đoạn trục lợi, vị kỹ dù biết hành vi đó trái với chánh lý.

              Đây là những trường hợp nêu trên hoàn toàn có chứng cứ sống động. Nhân đó, tôi là Đáo Bỉ Ngạn mới có những dòng chữ này gửi phản hồi đến ông Nguyễn Minh Tiến về bài viết: “NGƯỜI PHẬT TỬ NÊN ĐỌC KINH ĐIỂN NHƯ THẾ NÀO”.

              Kính thưa Ông Nguyễn Minh Tiến!

       Thực sự đã có một thời tôi ngưỡng mộ kiến thức học giả của Ông, quả là dưới bầu trời Phật học khó có ai được nhiều khả năng diễn đạt như Ông. Tuy vậy, dù tôn trọng Ông, nhưng tôi không thể không phản hồi khi mà ông Tân Thanh nguyên Biên tập viên của Văn hóa Phật giáo trực tuyến đã gọi điện thông báo, và yêu cầu tôi lên tiếng. Song, qua email mà Tân Thanh gửi đến, tôi thực sự bàng hoàng vì sự ngộ nhận của tôi về Ông, như bao nhiêu bạn đọc khác. Những cụm từ về Ông như “nịnh trên nạt dưới”, “tặng sầu riêng cho vợ sếp”, “cày chữ kiếm cơm”, tôi cố gắng không tin để không mất đi hình ảnh một học giả uyên thâm trong tâm trí tôi.

         Thưa Ông! Cũng trong email này ông viết những câu ngút ngàn hào khí, cũng đầy sự khiêm tốn vô song:  “Bản thân tôi không dám trèo cao, tôi không phải học giả hay hành giả gì cả, chỉ là một cư sĩ cố gắng làm theo lời dạy của Phật được chừng nào hay chừng ấy, và vì thế tôi chỉ suy nghĩ theo một chiều hướng rất đơn giản là: những gì liên quan đến sai sót trong bài viết của tôi, tôi xin rửa tai kính cẩn lắng nghe, bất kể người nói đúng hay sai;”(Hết trích).

          Giờ đây, tôi cảm ơn ông đã dành thời gian đầu tư công phu cho bài phản hồi của mình để rồi gửi đến những ý kiến phản hồi về bài viết của tôi.

        Thưa Ông! Xưa kia Tuân Tử có dạy “Ai chê đúng là Thầy ta, ai khen đúng là bạn ta.”, tôi cảm ơn ông nhưng tôi cần phải xét lại ông có là đối tượng nào trong sự xác định này.

KỲ 2: NGỘ NHẬN: TỪ Ý KIẾN BẠN ĐỌC (COMMENT) THÀNH BÀI VIẾT?!

I/ ĐÔI ĐIỀU PHẢN BIỆN VỀ LUẬN KIẾN CỦA ÔNG

       1/ Tựa đề mang tính chủ quan:

              Thưa ông, tựa đề bài viết của ông là “NGƯỜI PHẬT TỬ NÊN ĐỌC KINH ĐIỂN NHƯ THẾ NÀO?”.

              Nếu theo câu viết vừa nêu trên của Ông là “Tôi không phải là học giả hay hành giả gì cả…” thì ông cày ra gần 10.000 từ để khuyên dạy người khác làm chi? Bởi lẽ, nếu là người bình thường như ông đã nói thì đăng đàn làm gì, có lẽ nên ở nhà phụ việc cho vợ, dạy dỗ con cái là tốt hơn. Điều này chứng tỏ hành vi “nói và làm” trái ngược nhau. Do đó, tôi cũng không nên luận giải với đối tượng “khiêm tốn” như vậy. Song, vì bạn đọc đang chờ, vì trách nhiệm của người viết comment bài “Thực chất mùa Vu lan” do Tân Thanh viết, mà ông tự cho là bài viết: “Kinh Vu lan bồn thực hay giả” tôi đành phải phản hồi.

              Thưa ông! Giả sử ông là học giả hoặc hành giả hoặc cả hai cũng không thể viết mang tính chất chủ quan như trên. Trong kinh “Tứ thập nhị chương” ở chương 28 Đức Phật có khuyến cáo: “Chớ tin nơi tâm ý của mình, tâm ý không thể tin cậy được…Đắc quả A la hán rồi mới có thể tin cậy vào tâm ý của mình”! Do đó, lập luận của ông, xin lỗi, cho tôi nhận xét là khinh suất, thiếu cẩn trọng, tỏ thái độ ngạo mạn. Đọc tựa đề ông đặt ra, nếu không có ghi Nguyễn Minh Tiến, mọi người ngỡ tác giả là bậc Pháp chủ đạo Phật, chí ít cũng là luận chủ ở đây! Mà cũng không sai đâu, một học giả nổi tiếng, từng dịch nhiều kinh điển, thậm chí kinh “Đại bát Niết bàn” do Hòa thượng Thích Trí Tịnh đã dịch rồi, lưu hành hơn 60 năm rồi, ông cũng dịch lại, rồi đem đến tận chùa Vạn Đức tặng Hòa thượng, nên ông tự mãn là đúng! Vì vậy mà ông mới dám bác bỏ luận kiến của hòa thượng Tuyên Hóa mà tôi đã đưa ra trong phần đầu của comment mình!

       2/  Biến không thành có

              Thưa Ông, như tôi vừa viết, ông đã tranh luận mà chủ quan về đối tượng. Cái mà ông cho “bài viết” của tác giả Đáo Bỉ Ngạn thực ra nguyên bản của nó là một COMMENT về bài viết “THỰC CHẤT MÙA VU LAN”. Song, ông không nghiên tầm tường tận cho nên ông sơ suất trong lập luận ở Mục 1. Bây giờ tôi trích comment cho ông xem rõ nhé!

(VHPGO) Nhận thấy comment của người viết là Đáo Bỉ Ngạn liên quan đến thực chất về giáo điển Phật đà, BBT của Văn hoá Phật giáo online quyết định đăng thành bài để nhiều bạn đọc, học giả, cư sĩ, tăng ni nhằm rộng đường công luận về vấn đề được nêu ra là: “KINH VU LAN BỒN THỰC HAY GIẢ?”. (Hết trích)

              Lỗi sai từ chỗ này, tức là chỗ mà ông tự biến comment của tôi thành bài viết cho nên ông phê bình là sai. Một comment thường có tính thời sự của nó, liên quan đến thực tế diễn biến, người viết theo đó mà bình luận, trong Nhân minh học gọi là “hiện lượng biện giải” (xin lỗi, chắc người bình thường thì không nghiên cứu lĩnh vực này). Do vậy, văn phong của comment chỉ phản ánh ý nghĩa thực tại, mục đích hiện hữu của người viết, hầu hết là tập trung vào ý của tác giả, không nên đưa nó vào dạng thể loại học thuật để rồi ông “hô biến” nó thành bài mà mổ xẻ, chỉ trích, lên tiếng “bề trên” dạy khuyên người khác.

 Nguyên tắc luận giải khi đưa ra một luận đề trước khi kiến giải thì phải quay về nguồn gốc xuất xứ mà ông lại không làm điều đó. Do đó, lập luận của ông sơ xuất từ ban đầu, thì những phần sau sẽ không thể tồn tại vì ông đã “lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia”. Sau đây là minh chứng của tôi:

              Vì vậy, trong Mục 1, ông hồ đồ cho rằng câu của tôi viết: “Nhưng tại sao chỉ nhắc đến Mẹ mà không báo hiếu Cha?” là sai vì kinh Vu Bồn nhắc 19 lần đến từ phụ mẫu. Xin ông vui lòng đọc kỹ bài viết Tân Thanh mà vì đó mà tôi có câu trên.

THỰC CHẤT MÙA VU LAN

(VHPGO) Mùa vu lan tháng bảy lại đến trong những cơn mưa ngâu u ám. Trên khắp mọi miền đất nước, những ngôi chùa đua nhau khoe những gam màu trong bức tranh toàn cảnh của mùa tháng bảy này. Mỗi chùa mỗi kiểu, chùa lớn thì làm theo kiểu chùa lớn, chùa nhỏ thì làm theo kiểu chùa nhỏ. Một không khí nô nức tranh thủ làm phước, báo hiếu… nhưng tất cả có một điểm chung: hình ảnh người mẹ là mô típ chủ đạo trong mùa tháng bảy này.

Bài và ảnh: Tân Thanh

                 Do vậy, tôi viết là đúng, ông suy luận sai vì không tra cứu tận gốc. Và “cái chết” của ông ở đây là “việt vị”.

KỲ 3: NGỘ NHẬN: ĐI MUA NHÀ MÀ CHỌN CỬA SỔ            

                  Tuy nhiên, một học giả như ông không thể sơ xuất được nhưng ông muốn “hô biến” như vậy để có dịp khoe rằng ông đọc kỹ, đọc nhiều; mới có dịp ông tung tẫy ngòi bút của ông, để mọi người thấy được kiến thức bác học của mình.

                 Bản ngã tự kiêu của ông ở chỗ nào thể hiện? Thứ nhất là ông quá tự tin đến mức chủ quan vào “kiến thức” tầm chương trích cú của mình, bỏ qua tính thực tế hiện hữu mà nhận xét: “ tôi nhận ra khá nhiều lệch lạc từ 2 phía, dù là tán thành hay không tán thành”. Ôi chao! Ông đã khiêm tốn viết trong email gửi ông Tân Thanh là ông không phải “học giả hay hành giả” mà tại sao phán xét người ta “sai lệch? Hãy tưởng tượng những tác giả comment ấy sẽ như thế nào? Ông có biết họ là ai không, biết đâu họ là những cử nhân đại học chính quy, chứ không phải đại học tại chức đâu ông ạ! Qua luận kiến của họ tôi cảm nhận họ hiểu biết nhiều lắm, vì khi viết họ có đưa ra luận chứng từ kinh điển. Vậy thì tại sao ông phán là “lệch lạc”, tức là ông bài bác luôn luận điển? Tại sao không trích dẫn comment của ai, vì sao mà “lệch lạc”? Vậy, mà đối với tôi, đối tượng mà ông tranh luận, lại đòi tôi phải trích chương, dòng, trang, sách nào? Từ đây, bạn đọc có thể hiểu về luận bút của Nguyễn Minh Tiến.

              Tôi được Tân Thanh, nguyên là Biên tập viên trong VannhoaPhatgiao.com cho biết, liền sau khi bài ông viết, có 3 comment phản hồi về tính ngạo mạn của ông, trong đó 2 comment được đăng lên vào buổi chiều 17:56’ ngày 8.11.2012 và cái kia 19:11’ ngày 8.11.201, sau đó khoảng 21.00  ngày 8.11.2012 thì bị xóa đi. Tại sao như vậy? Hóa ra mới biết, ông Nguyễn Minh Tiến vừa có chức danh trong Ban biên tập trực tuyến vanhoaphatgiao.com, cách đó 1 ngày, nên khi thấy những comment bất lợi về mình thì liền không cho đăng, hoặc đã đăng mà ảnh hưởng đến danh dự của mình thì liền bỏ xuống.

               Thưa ông! Có nói rằng “cây ngay không sợ chết đứng”, và Phật dạy trong “Đại thừa Luận bảo vương Tam muội”: “Oan ức không cần biện bạch, vì biện bạch là hèn nhát, và đối oán chưa xả”, vậy thì vì sao ông nỡ làm như vậy, trong khi vanhoaphatgiao.com.vn do ông Huệ Phong nói là phải tôn trọng ý kiến của bạn đọc, dù comment thế nào cũng phải đăng lên, trừ khi văng tục, viết thô. Do đó, tôi cho rằng là các ông Huệ Phong, Minh Tiến nói một đường làm một nẻo. Đây cũng chắc là lý do Tân Thanh không thể đứng chung mặt trận văn hóa Phật giáo với các ông vậy!

               Thưa ông Minh Tiến! Tôi cũng thấy ông thực sự có “MINH” để mà “TIẾN” vì ông Minh Tiến vừa “đá bóng vừa thổi còi” thì làm sao luận giả nào chịu cho nỗi?

                Thế mới hay, học giả chẳng khác gì người thường, hơn kẻ khác ở chỗ biết “khiêm hạ” để tạo vỏ bọc quân tử, nhưng bên trong có nhiều thủ đoạn. Đây là chỗ ngộ nhận của mọi người như “họa bì nan họa cốt” vậy!  Ôi chao! Một kẻ dạy  người khác nên đọc kinh điển như thế nào?, rồi tự nói mình được an lạc nhờ đọc tụng kinh điển, liệu có ai tin không?

              Thưa ông Minh Tiến! Ông cho rằng “ý kiến của đa số comment còn mơ hồ trong việc tiếp cận kinh điển” thì tại sao ông không đăng những comment của họ để phân tích ra vì sao, do đâu, y cứ theo kinh điển nào, cho bạn đọc thấy họ có “mơ hồ” hay chính ông “hô biến” họ thành “mơ hồ”? Như ông đã viết muốn biết món hàng đó thật giả mà muốn thẩm định thì cần phải xem bản gốc, thì tại sao ông không trình ra “bản gốc”? Thưa ông, tại sao như vậy? Điều này, xin ông cho phép tôi nhận định là ông luôn tự cho mình đúng, không cho người khác luận kiến mà chỉ đưa luận giải “áp đặt” của mình. Thế mà trong thư trả lời Tân Thanh, ông tự xưng chỉ là người bình thường thôi! Khiêm tốn kiểu “Nhạc Bất Quần” của ông đưa biết bao người vào ma trận ngôn từ của ông vốn dĩ chỉ là “tầm chương, trích cú”. Đây là ngộ nhận đáng thương!

            Viết đến đây tôi liền nhớ lời dạy của thánh sư Gampopa, thành tựu giả Mật tông Tây Tạng viết: “Thông thái về giáo lý trong khi cạn cợt về thực hành tâm linh cũng giống như người giàu đánh mất chìa khóa mở kho tàng của mình. Đây là một thất bại trầm trọng của đời người”.

          Tôi nói như vậy không chủ quan, bởi tôi có người đồng đạo đã đến nhà ông ở xã Sông Xoài, huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu thấy ông viết về thiền mà không ngồi kiết già được, giảng trước 8 đạo hữu Mật tông mà tay chân run lẩy bẩy. Thế mới biết, giữa học giả và hành giả còn một khoảng cách.

              Lý ra tôi không cần biện luận thêm nữa vì ông tự xác định vị trí của mình là người bình thường, nhưng vì thỏa mãn nhu cầu cần hiểu biết của bạn đọc, minh định thực chất kinh Vu lan bồn, nên tôi nêu ra tiếp những luận kiến của mình.

II/ ÔNG NGUYỄN MINH TIẾN “ĐI MUA NHÀ MÀ CHỌN CỬA SỔ ĐẸP”

       1/ Tôi đã viết trong comment của mình rằng cần minh định bất kỳ một loại kinh nào của đạo Phật theo lời dạy của Ngài là phải dựa và “TỨ PHÁP ẤN” (1)Chư hành vô thường (2)Chư pháp vô ngã (3)Thọ thì bất tịnh (4) Niết bàn tịch tĩnh. Do vậy, sau khi thức ngộ từ lời của hòa thượng Tuyên Hóa về kinh Vu lan bồn là ngụy tạo, liền dựa vào “tứ pháp ấn” mà xét soi, rồi tôi mới kết luận.

             Riêng về phần trích lời của hòa thượng Tuyên Hóa, tôi không thể “chỉ nghe người khác nói về nó đã vội kết luận” (hết trích từ bài của ông). Đây là nguyên tắc “thánh giáo lượng” trong Nhân minh học Phật giáo, xin ông xem lại “Ngũ lượng phương tiện biện giải Phật gia” để hiểu rằng tôi không chủ quan.

               Vì sao? Theo Phật giáo, muốn hiểu một vấn đề khỏi mắc sai lầm thì phải y vào 5 yếu kiện sau đây gọi là 5 lượng: hiện lượng; tỉ lượng; thánh giáo lượng (nương theo lời của bậc thánh mà phán xét); thí dụ lượng; thần thông lượng. Hòa thượng Tuyên Hóa là ai chắc ông là học giả hiểu biết nhiều hơn tôi.

                Ông cũng phê phán tôi rằng ngài Tuyên Hóa nói ở đâu, chương, dòng, trang, sách? Thưa ông, tôi xin được minh giải sau đây:

              Thứ nhất, xin ông đừng hỏi vì sao tôi đã đọc như vậy, mà hãy hỏi tại sao ông chưa đọc. Có lẽ vì ông bận viết lách mưu sinh quá chăng?

              Thứ hai, có khi nào ông bảo tôi: “Anh vừa viết là thời gian có tính tương đối như Anbert Enstein nói, vậy hãy nói ra điều kiện nào có câu này, trong sách nào, chương dòng nào?”. Thưa ông cũng vậy, hòa thượng Tuyên Hóa đã nói mà tôi đã đọc, không cần phải trích trang dòng chương sách trong khi chỉ là một comment, không phải là quyển sách học thuật hoặc bài viết hoàn chỉnh. Vì vậy, phản biện của ông đối với comment của tôi như:

  1. “niềm sùng mộ của tôi đối với Ngài vào thời điểm đó là tuyệt đối”;
  2. “chớ vội tin”

Chúng không thể đứng vững trước luận đề “thánh giáo lượng” mà tôi đã phân tích như trên. Lại nữa, khi ông đã viết “chớ vội tin” thì tại sao ông lại không cho tôi nghi ngờ vào kinh Vu lan bồn? Ở đây lập luận của ông trở nên “tiền hậu bất nhất”.

                 Thưa ông Minh Tiến, dường như ông chưa đọc kỹ comment của tôi cụm từ là “Giờ đây, bình tâm mà xét lại quả nhiên kinh Vu lan bồn lộ ra nhiều sơ hở, trái với chánh tư duy nhà Phật” (hết trích). Điều đó, có nghĩa rằng tôi đã làm theo tinh thần kinh Kalama “chớ vội tin”, bởi lẽ Phật dạy “Tin ta mà không hiểu ta là phỉ báng giáo pháp của ta” (câu này có cần trích chương dòng không ông nhỉ?). Sau đó, tôi dùng “Tứ pháp ấn” là một loại “kính chiếu yêu” rọi vào nội dung kinh văn rồi mới viết ra.

                  Riêng với ông Minh Tiến, thưa toàn thể bạn đọc, từ đầu đến cuối bài ông Minh Tiến không đưa cái “kính chiếu yêu” này, không dựa vào trạch pháp nhãn. Ông “trích cú, tầm chương” đối với một thể loại comment thì rõ ràng ông bỏ nghĩa lấy lời, trong khi Phật dạy “Tứ y cứ” là (1) Y pháp bất y nhân (2) Y nghĩa bất y ngữ (3) Y trí bất y thức (4) Y kinh liễu nghĩa bất y kinh bất liễu nghĩa. Vậy, ông Minh Tiến chẳng khác chi “Đi mua nhà mà chọn cánh cửa sổ đẹp”.

KỲ 4: NGỘ NHẬN: BẢN GỐC MÀ KHÔNG GỐC

Chúng ta hãy xem ông Minh Tiến viết:

       “…chúng ta cần nhìn thấy bản văn gốc của kinh Vu Lan Bồn hiện đang tồn tại. Cũng như khi muốn thẩm định một món đồ là thật hay giả, chúng ta phải tận mắt nhìn thấy món đồ ấy, không thể chỉ nghe người khác nói về nó đã vội kết luận…”.

       Mới nghe qua cũng có lý, nhưng đọc kỹ thì đây là xảo biện. Thế nào là bản gốc, bởi nguồn gốc của nó không phải là kinh văn mà là kim khẩu của Đức Phật, vậy thì làm sao thẩm định nếu không dựa vào “Tứ pháp ấn”, tức là 4 tinh yếu thuộc nhân minh luận của nhà Phật? Nếu như theo ông Tiến nói là xem bản gốc từ tiếng Hán và Phạn thì lối biện giải “hiện lượng” ở đây không đúng. Theo nhân minh học, đặc biệt trong “năm lượng phương tiện biện giải” thì phải dựa vào “thánh giáo lượng”, có nghĩa là những lời dạy khẳng định, xác quyết, khuyến cáo của Đức Phật và Thánh chúng, chứ không phải là bộ Đại chánh Tân tu Đại tạng kinh, vốn là sự chọn lọc không phải thời kết tập kinh điển chính thống, chưa kể là sự can thiệp của vương triều thời đó. Do vậy mới có cụm từ “Phật giáo Quân vương”. Đây là nguyên nhân tạo ra những kinh ngụy tạo gọi là “ngụy thư”. Tôi sẽ bàn luận về vấn đề này như sau để bạn đọc thêm phần hiểu biết về thực trạng ngụy tạo kinh điển Phật giáo.

                Kinh điển ngụy tạo được thuật ngữ quốc tế gọi là Apocrypha có đặc điểm chung là một loại văn học, vốn thuộc về các tôn giáo bản xứ, nhưng lại tự cho mình có nguồn gốc hoặc mối liên hệ với Phật giáo Ấn Độ. Điều này đòi hỏi phải đặt ra nhiều mức độ khác nhau về tính hợp chuẩn và độ tin cậy khi tham khảo nội dung của kinh điển. Một vài kinh ngụy tạo, đặc biệt của Phật giáo Đông Á, mạo nhận nó chính là giáo pháp của Đức Phật – Buddhavacana (Word of the Buddha) tức tự mạo nhận nó là KINH (Sutra). Kinh ngụy tạo đôi khi cũng tự mạo nhận là lời luận giảng về kinh từ một vị thầy có tiếng tăm (hoặc có khi cũng vô danh) của Phật giáo Ấn Độ, tức nó tự mạo nhận là LUẬN (Sastra). Các bộ kinh Trung Quốc hay có nội dung luôn “để mở” hay “bỏ ngõ” với mục đích cho phép sự tiếp tục thêm vào dễ dàng các bản kinh mới từ Ấn Độ qua nhiều thế kỉ. Không còn nghi ngờ gì nữa, một tình huống như vậy đã tạo cảm hứng cho ý muốn tân trang các bản kinh và khích lệ sự sáng tạo ra các bản kinh gọi là kinh ngụy tạo. Kinh Pali của vùng Nam Á, trái lại đã được “cố định” rất sớm trong lịch sử, điều này khiến khó có thể thêm vào đó những nội dung nào khác.

       Ngang qua luận kiến trên bạn đọc đừng bao giờ nghe ai bảo kinh tức là kinh, mà phải làm theo tinh thần dân chủ, độc lập, công khai mà Phật dạy trong kinh “Kalama”: “Đừng vội tin tưởng một điều gì dù điều đó thường nghe nhắc nhở đến luôn. Đừng tin tưởng điều gì mà điều đó là một tập tục đã qua cả ngàn xưa để lại. Đừng tin tưởng những điều sáo ngữ hay bất cứ một điều gì mà người ta thường nói đến nhiều quá. Đừng tin tưởng bất cứ điều gì, dù cho điều đó là bút tích của thánh nhân xưa để lại bảo ta phải tin. Đừng tin một điều gì dù điều đó ở dưới mãnh lực của ông thầy hay nhà truyền giáo. Tất cả những sự thật, theo suy nghiệm riêng của mình và sau khi xác nhận rõ ràng, phù hợp với lẽ phải, tạo thành hạnh phúc riêng cho mình và hạnh phúc cho tất cả mọi người thì chính đó là sự thật và ta cố gắng sống theo sự thật ấy”. (Kinh Kalama – Tăng chi bộ I).

                Vì vậy cho nên những gì làm nền tảng luận cứ cho ông Minh Tiến vẫn còn hạn cuộc trong giới hạn “bối cảnh lịch sử”. Chẳng hạn như có vị vua nào đó, muốn chọn kinh nào theo ý của mình thì Ban chỉnh tu kinh điển có dám trái lời không? Chẳng hạn như Võ Tắc Thiên chọn ngụy thư Đại Vân, vua Lương Võ Đế chọn “Phạm Võng”. Còn nếu dựa vào luận điển của Phật gia thì vô hạn, vô cùng và bất biến.

              Sẵn đây tôi cho ông Minh Tiến biết, con số kinh được ngụy tạo gọi là ngụy thư, chiếm kỷ lục thuộc về Trung Quốc. Có khoảng 450 tựa đề kinh ngụy tạo Trung quốc liệt kê trong Danh Mục Đại Tạng kinh Nhưng thực ra tổng số tích lũy của ngụy thư viết ở Trung quốc gần đến con số 550, khi chúng ta tính cả hai loại bằng chứng văn học, ví dụ những văn bản không liệt kê trong danh mục nhưng lần lượt được tìm thấy trong tập hợp các văn bản Phật giáo và bản thảo tại Trung Quốc và Nhật Bản. Khoảng chừng một phần ba tổng số này còn tồn tại đến ngày nay, một con số lớn kinh ngạc đối với sự kiểm duyệt liên tục ngụy thư suốt thời Trung cổ.

Tỉ lệ ngụy thư còn sót lại đã chứng minh cho tính “lợi hại” của kinh Phật ngụy tạo trong bản xứ và cũng chứng minh cho sự kiện người Trung Quốc tiếp tục tin dùng loại văn bản này, trong đó có cả nhà phân tích thông tuệ như Trí Giả (538-597), người hệ thống hóa trường phái Thiên Thai của Đạo Phật Trung Quốc. Sự bùng nổ của hiện tượng ngụy kinh tại Trung Quốc cũng đã thúc đẩy cho sự lan rộng kinh điển ngụy tạo tại các vùng khác thuộc Đông Á, mặc dù không nơi đâu lại nhiều bằng tại Trung Quốc.

Những kinh ngụy tạo này đã thêm vào chiều kích mới cho sự phát triển Đạo Phật Trung quốc, một phần nhờ tình trạng tôn sùng kinh điển ở Trung quốc, nhưng quan trọng nhất là vì để đáp ứng nhu cầu cho chính tôn giáo và văn hóa tại Trung quốc, phục vụ cho sự củng cố vương triều phong kiến. Thái độ “nô lệ tâm linh” và pha tạp tín ngưỡng dân gian với niềm tin đạo Phật chân chánh là mảnh đất phì nhiêu cho ngụy thư xuất hiện.

Nay có người can đảm xét lại thì họ phản đối mạnh mẽ, vì đụng chạm đến quyền lợi quá lớn từ thí chủ cúng dường, viếng cảnh vào mùa Vu lan tháng Bảy, chữ hiếu mơ hồ tựa như ngu hiếu. Cho nên oái ăm ở chỗ là lễ Phật đản (đúng ra là ngày 8 tháng Tư âm lịch, sau đó con người nhân danh tổ chức, hội đoàn dời qua ngày 15 tức là rằm tháng tư). Chỉ riêng điều này đủ thấy sự can thiệp của con người vào kinh văn chính thống.

              Viết đến đây tôi liên tưởng đến hàng ngàn cô gái miền tây “trả hiếu” cho cha mẹ bằng cách hy sinh thân gái, đơn độc và buồn tủi nơi đất khách quê người. Một số cha mẹ gả con chẳng khác gì là bán để lấy tiền, để mong có đồ nước ngoài gửi về, bất chấp con mình như thế nào. Vậy cái hiếu đó đáng ca ngợi chăng, hay là chẳng khác gì việc buôn người mà luật pháp không thể rờ gáy được bởi vì họ là cha mẹ. Đó là ngu hiếu bởi vì nghe theo những người thân một cách mù quáng, tựa như người Phật tử đọc tụng và hành trì theo ngụy thư mà ngộ nhận là kinh Phật.

Rất nhiều người trong họ theo Phật, chắc gì không bị ảnh hưởng bởi chữ hiếu trong kinh vu lan bồn, đã đâm sâu vào gốc rễ vô minh của họ. Đặc biệt là kinh “Phật thuyết Đại báo phụ mẫu trọng ân”, vốn là ngụy thư được Trung Quốc triệt để khai thác chữ “hiếu”.

                Nếu bảo rằng Phật thuyết kinh Vu Lan Bồn để nhắc nhở con cái báo hiếu cho cha mẹ hiện đời vào dịp Vu Lan thì vô lý. Bởi tất cả chúng sanh đều là cha, là mẹ trong vô số kiếp trước của ta thì sao chỉ báo hiếu cho cha mẹ kiếp này thôi? Còn vô số những bậc cha mẹ khác không cần quan tâm à? Mà sao phải đợi đến mùa Vu Lan mới báo hiếu? Báo hiếu bằng cách nào đây? Đến chùa, cúng tiền và ghi tên vào danh sách cầu an, cầu siêu rồi “nhờ” người khác làm an, làm siêu cho cha mẹ giúp mình à? Thật là buồn cười!

Theo như luận giải của ông Minh Tiến: “Điều này cũng tương tự như đặt câu hỏi: “Tại sao chúng ta có ngày Môi trường thế giới 5/6, ngày Quốc tế phụ nữ 8/3, ngày Nhà giáo ViệtNam20/11… ? Chẳng lẽ những ngày khác trong năm thì không quan tâm đến môi trường, không tôn trọng nữ giới, không nhớ ơn Thầy Cô… ?” Đây là chuyện quá đơn giản nên xin tùy độc giả xem lại cách đặt vấn đề này của ông Đáo Bỉ Ngạn, tôi thấy không cần thiết phải dài dòng thêm ở đây”. hoàn toàn là không đề cập đến “hiện lượng” của vấn đề tại sao mùa vu lan có cầu an, cầu siêu với lượng khách thập phương đông đảo nhiều hơn cả ngày Phật đản, trong khi Phật dạy: “duy tuệ thị nghiệp”, không lấy hiếu làm đầu. Ảnh hưởng này từ đâu? Có nằm trong quỹ đạo chánh pháp hay không trong khi người tu Phật tức là thực hiện Đại Hiếu?

Nếu thật sự Phật đề cao chữ hiếu tầm thường là đền ơn phụ mẫu thì Ngài không bỏ cung vàng điện ngọc ra đi tầm đạo. Nếu thật sự Phật đề cao chữ hiếu tầm thường  thì lục tổ Huệ Năng không nhờ người khác nuôi mẹ dùm mà đi vào bái lễ ngũ tổ làm Thầy. Nếu thật sự Phật đề cao chữ hiếu tầm thường thì ngũ tổ không để mẹ mình làm công quả, ăn uống đạm bạc, ngủ nghỉ đơn sơ như bao nhiêu người áo lam khác trong chùa. Nếu thật sự Phật đề cao chữ hiếu tầm thường thì Hoàng Bá Hy Vận đại sư không thèm chào hỏi người mẹ mù mắt của mình. Nếu thật sự Phật đề cao chữ hiếu tầm thường thì Tế Công hòa thượng rời nhà 40 năm mới về, lúc ấy cha mẹ đã mất từ lâu. Nếu thật sự Phật đề cao chữ hiếu tầm thường thì hòa thượng Hư Vân không lén bỏ nhà ra đi dầu là con một và đang có 2 vợ. Nếu thật sự Phật đề cao chữ hiếu tầm thường thì các vị lạt ma tái sanh ở Tây Tạng không rời cha mẹ lúc 5 tuổi.

KỲ 5: NGỘ NHẬN: NGỤY THƯ KHIẾN NGỤY HIẾU

              Hòa thượng Tuyên Hóa đã chia ra 4 loại hiếu: Hiếu thuận với cha mẹ mình là cận hiếu; Hiếu kính với cha mẹ bạn là viễn hiếu; Chăm lo phụng dưỡng cha mẹ, không làm ô nhục dòng họ, gia đình là tiểu hiếu; Khuyên cha mẹ làm lành, tu theo Phật pháp là đại hiếu. Như vậy cách báo hiếu tốt nhất là tự mình thực hành Pháp rồi hồi hướng công đức đó cho cha mẹ sau mỗi thời công phu như lời dạy của thành tựu giả Dilgo Khyentse thuộc Phật giáo Tây Tạng. Mặc khác ta nên giúp cha mẹ tu tập Phật pháp là tốt nhất, chứ không phải là báo hiếu “hình thức”, nhờ người khác báo hiếu hộ… vào mỗi dịp Vu Lan ngắn ngủi hàng năm!

               Thói quen “báo hiếu” này xin các bạn đọc suy gẫm lại từ đâu. Oái ăm thay! Ngụy thư lâu ngày được đọc tụng thành thánh thư, “y giáo phụng hành”. Bấy giờ ai nghi ngờ thực chất giả mạo thì bị cho là bất kính, tội lỗi. Tôi nhớ lại Galile người tuyên bố trái đất quay xung quanh mặt trời nói trước khi bị trảm quyết: “Dầu sao trái đất vẫn quay”.

       Hòa thượng Tuyên Hóa kể rằng những người ở Đại lục vượt biển qua Hồng Kông làm sẵn bằng tốt nghiệp cấp III giả mạo để xin đi làm. Họ được nhận vào công ty, nhà máy. Đến khi lớp khác vượt biển qua, trình bằng tốt nghiệp chính quy, thì người ta lại không nhận mà cho là giả mạo. Cũng vậy, ở nước ta và Trung Quốc, kinh Vu lan này đã tồn tại hằng ngàn năm qua, trở thành “cố định”, làm sao người ta dám bác bỏ, trong khi kinh này đem lại lợi ích cung dưỡng cho chùa, và củng cố nền tảng phong kiến chuyên chế của các vương triều Trung Quốc.

                Tập hợp các ngụy thư bao gồm cả hai loại: kinh ngụy tạo và các văn bản được bảo tồn như là nguồn tham khảo trong các bộ luận Trung Quốc. Kinh ngụy tạo cũng đã được tìm thấy trong bộ sưu tập các bản thảo thời trung cổ phát hiện trong hiện tại. Thứ nhất là kho cất dấu tại Đôn Hoàng ở Trung Á, được phát hiện trong thế kỉ 20, gồm các bản thảo từ thế kỉ thứ 5 đến thế kỉ thứ 11. Hai là các bản thảo kinh tìm thấy tại Nanatsu-dera ở Nagoya, Nhật Bản, được kết tập suốt thế kỉ 12, dựa vào các ấn bản kinh Phật trước đó.

Vào năm 1990, phát hiện cho thấy có cả ngụy thư của Trung Quốc lẫn Nhật Bản. Điều kinh ngạc nhất trong lịch sử tìm kiếm là trong các bộ kinh được tìm thấy này là cuốn kinh Piluo Sanmei jing – the Scripture on the Absorption of Piluo, một cuốn kinh giả mạo nhưng được chứng thực trong danh mục Đại Tạng Kinh soạn bởi nhà sư, học giả nổi tiếng Đạo An (312-385), trước đó thì kinh này không ai biết. Bản thảo kinh Phật tại Nhật Bản chỉ là bản sao của bộ ngụy thư có sớm nhất từ Trung Quốc.

               Các công cuộc tìm kiếm khác cũng không kém phần giá trị trong sự xác nhận toàn cảnh lịch sử của kinh ngụy tạo: Cả hai loại bản thảo tại Đôn Hoàng và tại Nanatsu-dera bao gồm nhiều tựa đề không thấy có trong các bảng danh mục Đại Tạng, bằng chứng chỉ ra rằng sự tự sáng tác ra kinh bản xứ còn nhiều hơn như trước đây người ta nghĩ. Hơn bao giờ hết, các học giả chuyên môn cần phải đề xuất ra hay phân loại một cách thuyết phục các kinh ngụy tạo tìm thấy ở Nanatsu-dera là soạn thảo của Nhật Bản dựa trên văn bản Ấn Độ, hay dựa trên kinh ngụy tạo ở Trung Quốc. Như vậy các ngụy thư còn tồn tại ở Nhật Bản được đóng vai trò là bằng chứng cho sự ảnh hưởng và phổ biến của loại văn bản còn tranh chấp nhưng rõ ràng “thực dụng” này.

              Tại sao kinh ngụy tạo khó phát hiện? Như đã nói trên về thái độ nô lệ tâm linh, mặt khác sự tinh xảo trong việc “chế tác đồ giả” cùng với sự bảo tín của quý chùa chiền, chư tăng ni thiếu hiểu biết tường tận, hoặc là vì quá nễ trọng bậc tiền bối tâm linh nên không dám ý kiến, mặc định ngụy thư lâu ngày chày tháng trở thành chính thống!

                 Tập hợp văn học ngụy tạo hiện còn tồn tại thách thức sự diễn đạt đơn giản, ví dụ mỗi văn bản có riêng một học thuyết hay một khuynh hướng thực hành, động lực, và mô thức văn học hay kĩ thuật. Vài kinh ngụy tạo rất khéo léo trong sự tổng hợp tài liệu của Phật giáo nguyên thủy (chính thống) từ Ấn Độ mà không nói bất cứ gì về nguồn gốc tộc hệ của chúng; tuy thế, một số kinh ngụy tạo khác tuyên truyền về những loại đức tin và những loại thực hành phổ biến tiêu biểu cho văn hóa bản địa, đồng thời thêm vào một cách vụng về cẩu thả những yếu tố Phật giáo nhằm mục đích giải thích cho cái tựa đề là “kinh” (tức Jing trong tiếng Trung Quốc). Đa số các kinh ngụy tạo Trung Quốc rơi vào hai cực đoan khi ca ngợi các đức tin và cách thực hành Phật giáo như là phương tiện để thu hoạch lợi ích thế gian.

                Một số kinh ngụy tạo thêm vào các nguồn dẫn và sự suy diễn với mục đích tăng cường một giá trị hay quan điểm nào đó của Đạo Phật với môi trường bản xứ. Chẳng hạn như “kinh vu lan bồn, Đại báo phụ mẫu trọng ân…”. Giới luật, nền tảng của giải thoát Phật giáo, đã được kinh ngụy tạo thể hiện nổi bật như một chủ đề. Ví dụ như kinh Phạm Võng (Fanwang Jing, Brahma’s bet sutra)). Kinh này thay đổi một phần giới luật của Bồ Tát đạo bằng cách thêm vào khái niệm Hiếu của Đạo Khổng, một xảo thuật lộ liễu phản lại cả truyền thống Trung Quốc cũng như nổ lực tương thích hai hệ thống giá trị quá khác biệt.

                Khái niệm “Hiếu” thể hiện rất rõ trong kinh Đại Báo Hiếu Phụ Mẫu Trọng Ân (Fumu enzhong jing – the Scripture on profound gratitude toward parent) đặt căn bản trên giáo huấn theo kiểu “24 ân phụ mẫu” của Khổng Tử. Ngụy thư tô đậm hành động cụ thể của người con bất hiếu và thúc đẩy anh ta phải báo đáp cha mẹ, phải hi sinh bằng cách cúng dường tam bảo (Phật, Pháp, Tăng). Loại kinh này là một trong những kinh ngụy tạo phổ biến nhất vào thời Trung cổ.

III/ ĐƯA KINH “VU LAN BỒN”  TRƯỚC LĂNG KÍNH “CHÁNH TƯ DUY”.,

SỚ BỘ KINH.
ĐẠI CHÁNH TÂN TU ĐẠI TẠNG KINH.

PHẬT THUYẾT VU LAN BỒN KINH.

Đời Tây Tấn, Nguyệt thị Tam Tạng Trúc Pháp Hộ dịch từ Phạn sang Hán.
Quang Đăng dịch từ Hán sang Việt.

Như vậy tôi nghe: Một thời Phật tại nước Xá Vệ trong vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc, Đại Mục Kiền Liên mới đắc lục thông, muốn độ phụ mẫu báo ân nhũ bộ, liền dùng đạo nhãn quán thế gian, thấy vong mẫu của mình sanh trong ngạ quỷ, không thấy thức ăn, xương the dính sát lại với nhau.

Mục Liên bi ai, liền mang chén đầy cơm đến cho mẹ. Người mẹ được bát cơm, liền lấy tay trái che cơm, tay phải bốc cơm ăn, cơm vừa đưa đến miệng thì hóa thành than lửa. Mục Liên rất đau buồn gào khóc thảm thiết, nhanh về bạch Phật, thuật lại đầy đủ như đây.

Phật dạy: Mẹ ông tội căn rất chặt, chẳng phải một mình sức ông giúp được. Ông tuy hiếu thuận vang động trời đất; thiên thần địa thần, tà ma ngoại đạo, Đạo sĩ, Tứ Thiên Vương thần cũng không thể giúp được; phải tụ lực uy thần của chúng Tăng mười phương mới được giải thoát. Ta nay sẽ nói pháp cứu tế cho ông, khiến tất cả nạn đều lìa, ưu khổ tội chướng tiêu trừ.

Phật bảo Mục Liên: Mười phương chúng Tăng vào ngày mười lăm tháng bảy là lúc Tăng tự tứ, phải vì cha mẹ bảy đời, và cha mẹ hiện tiền trong ách nạn, bày đủ cơm trăm vị, năm thứ trái cây, nước rưới, bồn chậu, đồ dùng, thỏi hương dầu đốt, sàng phu ngọa cụ, thơm ngon nhất đời đựng trong bồn, cúng dường chúng Tăng đại đức mười phương.

Trong ngày này, tất cả thánh chúng hoặc tại sơn gian thiền định, hoặc đắc tứ đạo quả, hoặc dưới cây kinh hành, hoặc lục thông tự tại giáo hóa Thanh Văn Duyên Giác, hoặc thập địa Bồ Tát đại nhân quyền hiện Tỳ Kheo, ở trong đại chúng sẽ đồng nhất tâm thọ nhận bát cơm Hòa La.

Đạo của thánh chúng đủ giới thanh tịnh, đức đó sâu như biển. Người có cúng dường tự tứ Tăng già này, cha mẹ hiện tại, hoặc cha mẹ bảy đời, sáu hàng quyến thuộc được ra khỏi khổ tam đồ, tùy thời giải thoát, y thực tự nhiên. Nếu cha mẹ của người còn hiện tiền thì phước lạc trăm năm, nếu cha mẹ quá vãng trong bảy đời được sanh lên trời, tự tại hóa sang nhập trong thiên hoa quang, thọ vô lượng khoái lạc. Thời Phật lệnh mười phương chúng Tăng đều đến trước chú nguyện cho thí chủ, cha mẹ bảy đời, hành ý thiền định rồi sau thọ thực. Lúc mới nhận bồn, đầu tiên để tại trước tháp Phật, chúng Tăng chú nguyện xong, rồi tự thọ thực.

Bấy giờ Mục Liên Tỳ Kheo và chúng đại Bồ Tát trong đại hội đều rất hoan hỷ, tiếng buồn rầu kêu khóc của Mục Liên thích nhiên trừ diệt. Lúc này mẹ của Mục Liên tức trong ngày này được thoát một kiếp khổ ngạ quỷ.

Bấy giờ, Mục Liên lại bạch Phật rằng: Đệ tử được cha mẹ sanh ra, được gặp sức công đức của Tam Bảo, lực uy thần của chúng Tăng, nếu trong đời vị lai, tất cả đệ tử Phật, người hành hiếu thuận cũng nên phụng Vu Lan bồn này, cứu độ cha mẹ hiện tại nhẫn đến cha mẹ trong bảy đời, có phải như vậy không?

Phật nói: Hỏi rất hay! Ta đúng lúc muốn nói, ông nay lại hỏi. Thiện nam tử! Nếu có Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Quốc vương, Thái Tử, Vương Tử, Đại Thần, Tể Tướng, Tam Công, bá quan, vạn dân, thứ nhân đều nên vì cha mẹ hiện tại sanh ra mình và cha mẹ bảy đời quá vãng, vào ngày mười lăm tháng bảy, ngày Phật hoan hỷ, ngày Tăng tự tứ, khất nguyện dễ khiến cha mẹ hiện tại thọ mạng trăm năm không có bệnh tật, không có tất cả hoạn nạn khổ não, cho đến cha mẹ bảy đời lìa khổ ngạ quỷ, được sanh trong người trời, phước lạc vô cực.

Phật nói: Các thiện nam tử, thiện nữ nhân là đệ tử của Phật tu hiếu thuận, phải trong niệm niệm thường nhớ nghĩ cúng dường cha mẹ cho đến cha mẹ bảy đời, hằng năm vào ngày mười lăm tháng bảy, thường dùng lòng từ hiếu thuận cha mẹ đã sanh ra mình, cho đến cha mẹ trong bảy đời làm Vu Lan bồn thí Phật và Tăng, để báo ân từ ái trưởng dưỡng của cha mẹ. Tất cả đệ tử Phật phải nên phụng trì pháp này.

Lúc đó Mục Liên Tỳ Kheo, tứ bối đệ tử nghe Phật thuyết xong hoan hỷ phụng hành.

 Bây giờ chúng ta cùng nhau phân tích nội dung kinh văn:

  1. Sau khi đắc lục thông tức là có lậu tận thông là không phiền não, ưu sầu thì làm sao ngài Mục Kiền Liên lại có biểu hiện thường tình của một kẻ phàm phu như vậy? (Mục Kiền Liên nhớ mẹ, tỏ ra bi ai, đem cơm cho mẹ, mà sao chỉ mình mẹ thôi, còn chúng sanh khác thì sao? Lẽ nào ngài lại chấp thủ tình thân như vậy? Sau đó lại đau buồn gào khóc thảm thiết).  Nên nhớ, luyến ái, bi ai mà ái sinh thủ, thủ sinh hữu…trái với quán niệm lý “Nhân duyên” mà bất kỳ vị A la hán nào cũng am tường và ứng dụng trong hành vi thân ngữ tâm.

Do đó cho thấy lăng kính pháp ấn “Niết bàn tịch tĩnh” là không đúng với một bậc đắc thánh quả A la hán, vốn là tâm bất động trước biến động sanh tử luân hồi. Sự sơ hở trầm trọng và lộ liễu nhất là khi chúng ta đều biết ngạ quỷ dùng “hương thực” chứ đâu phải “đoạn thực” mà dâng cơm?

  1. Đức Phật nói tội của mẹ ngài rất nặng, tà ma ngoại đạo, đạo sĩ, tứ đại thiên vương cũng không thể giúp được.

Khi học Phật chúng tôi được biết, thần thông của một A la hán, xét về đạo lực thì rất oai dũng, cao siêu, cần gì phải kể đến các loại đối tượng như đạo sĩ, tứ đại thiên vương, tà ma ngoại đạo. Dù cho ngài muốn chuyển sang thần lực của Tăng đoàn cũng không phải phát ngôn câu tầm thường như vậy. Có bao giờ mẹ ông tổng thống bị tù trong lao ngục, bậc minh triết nào đó nói: “Mẹ ông tội nặng lắm, Bộ trưởng, Tỉnh trưởng cũng không cứu được”. Câu này nên dành cho người dân thường. Cũng vậy, không thể nói đây là thánh ngôn của Đức Phật.

              Nhân đây, tiện thể tôi cũng phản biện về luận đề mà ông đưa ra:

Người nữ bà-la-môn niệm Phật để cứu mẹ mình trong 1 ngày đêm => có kết quả

Năm trăm vị A-la-hán chú nguyện để cứu mẹ ngài Mục-kiền-liên => có kết quả

Suy ra: Năm trăm vị A-la-hán chú nguyện = Người nữ bà-la-môn niệm Phật

Sự tóm tắt như trên phản ánh trung thực những gì nêu ra trong đoạn văn, nhưng khi nhìn vào hẳn quý vị sẽ thấy ngay tính khôi hài và vô lý của nó! Một đàng là niệm tôn hiệu Phật, nghĩa là cầu sự gia bị của đức Phật, và có kết quả là nhờ đặt niềm tin vào Đức Phật, nhờ có tha lực của Đức Phật; còn một đàng là sự chú nguyện trực tiếp của các vị A-la-hán cho mẹ ngài Mục-kiền-liên, hai trường hợp, hai phương tiện, hai pháp môn, hai đối tượng đều hoàn toàn khác nhau, làm sao có thể so sánh được?

                       Thưa ông Minh Tiến và bạn đọc!

              Lại một lần nữa ông Minh Tiến cố tình không đọc từ “đạo lực”, lại xảo biện theo chủ quan của mình cho rằng đây là 2 pháp môn khác nhau thì không thể so sánh được? Tôi xin thưa như thế này:

              Chúng ta biết mọi pháp tu nào của Phật nếu tinh tấn và đúng pháp thì sẽ đạt kết quả là giải thoát. Cũng vậy, người tu Tịnh độ thì niệm Phật, người tu Thiền thì tĩnh tọa thiền định, người niệm chú thì tam mật tương ưng. Rốt lại họ có được một điểm chung để so sánh là đạo lực. Vì vậy, sự so sánh này xét về đạo lực như tôi đã viết thì không sai. Cũng như lên võ đài, dù nhiều võ sĩ khác môn phái, nhưng có chung một phân định rõ ràng là nội công thâm hậu, từ đó phân định kết quả.

                 Sẽ buồn cười nếu nói rằng 500 võ sĩ thượng thừa ngang bằng với một võ sĩ mới nhất tâm luyện võ trong  1 ngày đêm!? Ông Minh Tiến nên nhớ, một A la hán phải tu qua 3 a tăng kỳ kiếp, rồi mới chứng thánh quả trong hiện kiếp, lẽ nào lại bằng đạo lực của người phụ nữ Bà la môn về phương diện tu hành?  Vì thế, khi đọc kinh này mà nói như ông Minh Tiến, cần phải đối chiếu với nhiều kinh khác, cần phải minh định, thì kinh Vu lan bồn gây ra đại họa là “phê bình giáo pháp” nhà Phật?

KỲ 6: NGỘ NHẬN VỀ ÔNG NGUYỄN MINH TIẾN

                     Lại nữa, thưa ông Minh Tiến!

                 Ở đoạn phản biện này, ông ẩn dụ một hình ảnh nhằm vào tôi là “một học sinh tiểu học, không qua nỗi kỳ thì tốt nghiệp”, thì ông vui lòng xem lại sự ngộ nhận của ông khi bỏ qua từ “đạo lực” để dùng chiến thuật “cả vú lấp miệng em”. Và ở đây cũng cho thấy ông quá kiêu ngạo, sẳn sàng nhục mạ luận giả khi tranh luận bằng từ “phóng tưởng”.

               Tôi cảm ơn ông đã viết như vậy vì đã cho tôi thấy được nhân quả hiện tiền, là sau đó tôi được Tân Thanh gửi đến email mà chính ông đã tự bóc trần mặt nạ tâm thức của ông qua sự mô tả thủ đoạn luận bút, ngôn từ thể hiện của ông, qua đời sống thực của ông mà người khác viết với chứng cứ rõ ràng. Im lặng tức là chấp nhận phải không ông Minh Tiến? Sau đây là trích đoạn:

  Từ: Nguyễn Phạm Tân Thanh <[email protected]>

Ngày: 00:27 Ngày 09 tháng 11 năm 2012
Đến: [email protected]

Bài viết của ông Nguyễn Minh Tiến thật là dài và công phu nhưng tôi nghĩ độc giả nên xem lại và đừng vội đặt niềm tin nơi ông vì Đức Phật từng dạy trong Kinh Tứ Thập nhị chương rằng: chưa đắc quả A la hán thì đừng vội tin nơi tâm ý mình. Ông Nguyễn Minh Tiến chưa phải là thánh nên những luận giải của ông chưa phải là đúng, là chân lý.
Huống hồ, đức Phật từng dạy trong kinh Kamala (Tăng Chi Bộ), rằng “Đừng vội tin tưởng một điều gì dù điều đó thường nghe nhắc nhở đến luôn. Đừng tin tưởng điều gì mà điều đó là một tập tục đã qua cả ngàn xưa để lại. Đừng tin tưởng những điều sáo ngữ hay bất cứ một điều gì mà người ta thường nói đến nhiều quá. Đừng tin tưởng bất cứ điều gì, dù cho điều đó là bút tích của thánh nhân xưa để lại bảo ta phải tin. Đừng tin một điều gì dù điều đó ở dưới mãnh lực của ông thầy hay nhà truyền giáo. Tất cả những sự thật, theo suy nghiệm riêng của mình và sau khi xác nhận rõ ràng, phù hợp với lẽ phải, tạo thành hạnh phúc riêng cho mình và hạnh phúc cho tất cả mọi người thì chính đó là sự thật và ta cố gắng sống theo sự thật ấy”.
Tuy ông Nguyễn Minh Tiến được nhiều người ca tụng là một học giả “uyên thâm” Phật pháp, kinh điển nhưng thực tế tôi có một vị Thầy từng cộng tác với ông nên có dịp gặp ông và chứng kiến cuộc sống của ông nên biết được rằng, lời ông nói chỉ toàn sáo rỗng, ông có vẻ là một người “đa văn” nhưng thực chất chẳng có công phu tu hành gì mấy. Trên văn đàn toàn là những lời kinh văn thông suốt, ngôn ngữ chau chuốt… nhưng đời sống của ông nhiều lúc lại trái ngược với những gì ông viết hay rao giảng. Là người được nhà sách Quang Minh, công ty văn hóa Hương Trang giao trọng trách hiệu đính, kiểm duyệt nội dung sách Phật giáo được xuất bản nên ông thường o ép, nhũng nhiễu những tác giả cần đến ông, hễ cung kính, cho ông “lễ vật”… thì được ông giúp đỡ, bằng không thì… ông phản bác, cho loại, hoặc để mình ông đứng ra dịch thay và lấy tên mình.
Ông còn gợi ý người khác mua những sản phẩm do mình dịch, viết… và còn nhiều những thái độ trịch thượng khác nữa mà có lẽ bản thân ông biết rõ hơn ai hết, tôi không tiện nêu ra! Thầy tôi cũng là một trong nhiều nạn nhân của sự trịch thượng này. (trong bài này tôi cũng thấy ông khoe khoang, giới thiệu đường dẫn hầu hết đến trang web của ông là trang rongmotamhon.net, có lẻ để giới thiệu sản phẩm, chiêu dụ bạn đọc mua sách/đọc sách của ông chăng???)
Đối với kẻ dưới quyền thì vậy, nhưng đối với người trên thì ông lại có thái độ “nịnh nọt” cung phụng, như là “tặng sầu riêng cho vợ của sếp”, tôi còn nghe ông nói rằng mình còn phải “cày” để “kiếm cơm” kể cũng tội nghiệp thật, nhưng với một vai trò, vị trí của một học giả “tiếng tăm” như vậy thì thật chẳng cân xứng chút nào và thật đáng xấu hỗ cho thái độ “nịnh trên, nạt dưới” của ông.
Ai đã từng gặp gỡ, làm việc với ông thì chắc sẽ tường tận và thấm thía… hơn!!!
Mong mọi người hãy tự mình thắp lên ngọn đuốc Chánh Pháp mà đi theo lời Phật dạy. Đừng vội tin và nghe theo những người có vẽ là đa văn, chuyên “ói mữa” giáo lý mà chẳng thấm nhuần giáo pháp, lời nói và tâm ý thì khác nhau, hiểu biết mà chỉ để trang hoàng, khoe khoang vòng hoa kiến thức trên đầu mình để người khác tán tụng nhưng lại không đi đôi với thực hành ứng dụng (giống như ông Minh Tiến nêu trên). Hãy cẩn thận với những hạng người này, như là Thiện Tinh tỳ kheo thời đức Phật khi xưa vậy!
Cầu mong khổ đau của tất cả chúng sanh được lắng dịu và họ sẽ nhanh chóng thành tựu được hạnh phúc của Phật tánh!
Mong ông Nguyễn Minh Tiến hãy tự quán xét lại bản thân mình để biết tàm quý hơn, để có thể trở thành người tối thượng thứ hai theo lời Phật dạy.
Mong lắm thay.
Đỗ Cao Tường
———-

Từ: Nguyễn Minh Tiến <[email protected]>
Ngày: 07:11 Ngày 09 tháng 11 năm 2012
Đến: Nguyễn Phạm Tân Thanh <[email protected]>

Cảm ơn Tân Thanh đã chuyển comment.
Chuyện này không quan trọng, tôi và Phong đã trao đổi rồi. Khi người ta “đuối lý” và sân hận thì chuyện gì họ cũng làm, điều gì cũng nói, kể cả làm bậy và nói láo. Nhưng tôi chấp nhận chuyện đó khi đứng ra phân vạch đúng sai giúp độc giả.

Thân mến,

BBT Rộng mở tâm hồn
Nguyên Minh
———————-
http://rongmotamhon.net/

Từ: Nguyễn Phạm Tân Thanh <[email protected]>
Ngày: 11:06 Ngày 09 tháng 11 năm 2012
Đến: Nguyễn Minh Tiến <[email protected]>

Tôi nghĩ họ không nói láo đâu anh Minh Tiến ạ? Tôi có dịp nói chuyện cùng Võ Quang Nhân về LAMRIM Đại Luận nên cũng có dịp được Võ Quang Nhân đem những lời khó nghe nói về anh. Tuy nhiên, anh đúng hay Võ Quang Nhân đúng điều đó không quan trọng nhưng cũng là cơ sở để họ hiện lượng biện giải. Đây cũng là một phương pháp mà Tây Tạng sử dụng trong những cuộc tranh luận của họ trong 5 năm học Nhân Minh Học.

Trở lại vấn đề chính. Tôi đứng về quan điểm cho rằng kinh vu lan bồn là giả. Vì sao?
Vì Tứ Pháp Ấn đã minh định:
Chư hành là vô thường
Chư pháp là vô ngã
Thọ là bất tịnh
Niết bàn tịch tĩnh
Với tư cách là một học giả và là hành giả. Tôi nhận thấy Kinh Vu Lan không đáp ứng được Tứ Pháp Ấn trên nên tôi tin chắc rằng kinh vu lan bồn là hoàn toàn ngụy tạo vì mục đích nào đó trong lịch sử. Anh có thể làm một bài luận về vấn đề mà tôi đưa ra sẽ thấy những điểm không tương đồng trong cách diễn giải của vu lan bồn với bất kỳ một bản kinh văn nào khác, chẳng hạn như Kinh Bát Đại Nhân Giác, hoặc Vị Tằng Hữu Thuyết Nhân Duyên… Ta nhận thấy rằng trong tất cả các kinh văn do Ngài thuyết ra đều mang 3 yếu tính giác ngộ. Gọi là Xả Ly, Bồ Đề Tâm và Tánh Không. Rõ ràng vu lan bồn không hội đủ 3 yếu tính trên… và còn nhiều những vấn đề không đúng luật tắc nhân quả trong bản kinh văn này.
Tuy nhiên tôi không có ý định tham gia vào cuộc tranh luận này. Vì sao? Vì tất cả các CTV của tôi đã rút hết bài viết. Họ không muốn tham gia vì sự có mặt của anh trong vanhoaphatgiao. Mặc dù anh là một học giả có uy tín nhưng anh không tri hành tương ưng nên cuối cùng cái nói của anh không có giá trị. Bản thân tôi sau khi rút hết bài viết cộng tác thì đã bị khóa tài khoản. Tôi những tưởng tôi giống con nít 3 tuổi muốn cho thì cho và muốn lấy thì lấy. Thật là buồn cười!
Đồng thời, trong bài viết của anh tưởng như kỳ công nhưng có nhiều sơ hở. Tôi đã thông báo đến tác giả Đáo Bỉ Ngạn và sẽ có phản hồi trong vài ngày. Đành rằng anh là một học giả có tiếng tăm nhưng anh viết theo lối chủ quan như trên thì rất dễ để người khác bác bỏ luận điểm.
Vài dòng chân tình.
Tân Thanh

Từ: Nguyễn Minh Tiến <[email protected]>
Ngày: 11:33 Ngày 09 tháng 11 năm 2012
Đến: Nguyễn Phạm Tân Thanh <[email protected]>

Tân Thanh thân mến,
Khi Tân Thanh nghĩ “họ không nói láo đâu” thì tất nhiên đúng là họ nói thật. Nhất là khi đó là suy nghĩ của một học giả và hành giả.

Bản thân tôi không dám trèo cao, tôi không phải học giả hay hành giả gì cả, chỉ là một cư sĩ cố gắng làm theo lời dạy của Phật được chừng nào hay chừng ấy, và vì thế tôi chỉ suy nghĩ theo một chiều hướng rất đơn giản là: những gì liên quan đến sai sót trong bài viết của tôi, tôi xin rửa tai kính cẩn lắng nghe, bất kể người nói đúng hay sai; còn ngoài ra, mọi thông tin khác nữa e rằng đều đã đi sai địa chỉ.

Thân mến,
Nguyễn Minh Tiến

BBT Rộng mở tâm

Từ: Nguyễn Phạm Tân Thanh <[email protected]>
Ngày: 11:36 Ngày 09 tháng 11 năm 2012
Đến: [email protected]
Tất nhiên là họ nói thật. Bởi tôi cũng đã có duyên gặp gỡ đạo sư Nguyên Thành, người đã bị anh găm tập bản thảo Pháp là Cuộc Sống theo quan kiến Mật giáo. Tôi vẫn còn chưa tin lắm nhưng một lần tình cờ hội ngộ Nguyễn Hữu Cứ thì mới hay sự thật ê chề. Và nghe đâu trong vụ nhà sách Quang Minh Hương Trang lừa gạt tác quyền, anh phải thân chinh cùng đoàn tùy tùng của Nguyễn Hữu Cứ đến xin lỗi và giao lại Support bản thảo cho tác giả Nguyên Thành mà!
Có lẽ hơi hướm mùi phong bì đang tỏa ngào ngạt đâu đây? Chính anh thừa nhận phải bận bịu “cày kiếm cơm” nuôi vợ và 2 con nhỏ thì làm gì có thời gian rảnh rỗi mà bỏ công từ thiện để viết một bài dài dằn dặc để tranh biện cùng Đáo Bỉ Ngạn.

Từ: Nguyễn Phạm Tân Thanh <[email protected]>
Ngày: 18:36 Ngày 09 tháng 11 năm 2012
Đến: [email protected]

Ủa, sao anh không hồi âm nhỉ? Hóa ra nhờ vậy mà tôi hiểu vì sao anh đã gỡ comment mà bạn đọc đã phản hồi. Lẽ nào anh không “phân vạch đúng sai giúp độc giả” như lời anh viết. Chẳng lẽ quả thật anh nói làm khác nhau. Như vậy làm sao anh dạy “người Phật tử đọc kinh Phật như thế nào?” Tội lỗi, Tội lỗi…

Cầu nguyện đức Phật gia hộ cho sự thật được phơi bày ra ánh sáng. Cho những mặt nạ tâm thức sẽ rụng rơi như những chiếc lá cuối thu.”

(Hết trích)

Thưa ông Minh Tiến! Tôi thà chấp nhận là “học sinh tiểu học” mà như ông nói “viết sai một cách ngây ngô đến mức dễ thương” còn hơn là học giả như ông mà làm ra những hành vi thân ngữ tâm hết sức tầm thường như vậy. Thế mà sao trong bài phản hồi của mình, ông lại tự giới thiệu kinh nghiệm bản thân của mình tu tập tốt như thế nào, hưởng được ân sũng của Tam bảo ra sao, hiểu sâu kinh điển như thế nào…Thế mới biết, phần lớn người nghèo có được chút tài vật gì thì ưa khoe của, người giàu khôn ngoan thì thường tự bảo mình nghèo.

Thưa ông! Cho dù ông giàu về từ ngữ, giàu về học vấn, giàu về gia tài văn học, nhưng ông không có gia tài mà Phật nêu ra trong “thất thánh tài” là “giới đức, khiêm hạ, tàm, quý, trí huệ”.

3. Trong kinh Vu lan bồn Phật dạy “bày đủ cơm trăm vị, năm thứ trái cây, nước  rưới, bồn chậu, đồ dùng, thỏi hương dầu đốt, sàng phu ngọa cụ, thơm ngon nhất đời đựng trong bồn, cúng dường chúng Tăng đại đức mười phương”, không đúng với tinh thần “xả ly” của chư tăng, vốn được cho là cắt ái ly gia. Đức Phật dạy chư tăng đơn sơ với thực phẩm, đơn sơ với thuốc men, đơn sơ với chổ ngủ nghỉ… Sao còn dạy cho cư sĩ tại gia bày biện cúng thí…  Họ thực hành đại hiếu là thực hành chánh pháp rồi tự khắc người thân cũng được ảnh hưởng tích cực. Hơn nữa, lượng cúng dường như vậy ở đây Phật không nói là “ít cũng được tùy theo hoàn cảnh”, như vậy có phải là Phật làm khó cho kẻ nghèo không? Do đó, ta thấy đạo hữu Minh Tiến suy luận đúng, nhưng kinh văn lại ngụy tạo nên sơ hở về phần nội dung biểu đạt.

Vả lại, theo kinh điển xác quyết một người tu đắc quả là bảy đời cha mẹ siêu thăng, thì tại sao ngài Mục Kiền Liên đã đắc thánh quả rồi mà mẹ còn ở cõi ngạ quỷ? Rõ ràng là kinh này là ngụy thư và “bất liễu nghĩa” mà Phật dạy chúng ta tuân theo “Tứ y cứ” trong đó “y kinh liễu nghĩa bất y kinh bất liễu nghĩa”. Đức Phật quả là bậc toàn giác, biết trước con trùng trong thân sư tử sẽ hoàng hành sau 500 năm kể từ khi Ngài viên tịch.

Còn nhiều điểm sở hở mang tính trầm trọng nữa mà khi đọc tụng kinh điển chúng ta nên tin hay không tin đều phải dùng cách thẩm định siêu phàm bằng “tứ pháp ấn” và “tứ y cứ”.

Thưa ông Minh Tiến và bạn đọc!

Viết đến đây là quá dài rồi, tôi còn một phần muốn viết về bút pháp “Nhạc Bất Quần” của ông Minh Tiến, luôn áp đặt và chấp thủ bằng những trận hỏa mù về mỹ từ, số liệu, pháp liệu, rào trước đón sau nhưng thực tế là phản ánh “cái tôi” của ông, trái với nhân cách của học giả Phật giáo là quán niệm vô ngã.

Có một điều oái ăm là ngay cả khi đã được làm rõ, kinh ngụy tạo vẫn chiếm chỗ quan trọng trong lịch sử Phật Giáo như một sự đổi mới và thích nghi để nối liền văn bản từ truyền thống Phật Giáo Ấn Độ với tôn giáo, văn hóa, xã hội bản địa Trung Quốc, Việt Nam. Do vậy, việc loại bỏ tính ngụy tạo trong loại kinh này không phải một sớm một chiều mà có kết quả. Phương chi những loại kinh ngụy tạo đề cao cúng dường trai tăng, nhờ chùa cầu siêu, cầu an, thì làm sao giới tăng lữ “xét lại” tích chân thật của kinh vu lan bồn, đại báo phụ mẫu trọng ân.

Hôm nay, tôi là Đáo Bỉ Ngạn, trước mười phương chư Phật và các chư Kim cang hộ pháp, đặc biệt là vị Đạo sư tôn quý của mình, xin thề nguyện:

Nhờ tinh thần của kinh Kalama soi sáng, qua lăng kính “tứ pháp ấn” của nhà Phật mà chiếu soi, qua luận giải bằng “ngũ lượng phương tiện biện giải” của đạo Phật, qua nghiên tầm giáo điển có chọn lọc, tôi khẳng định và thệ nguyện rằng:

1. KINH “VU LAN BỒN”, “ĐẠI BÁO PHỤ MẪU TRỌNG ÂN” LÀ NGỤY THƯ, NẾU CHÚNG LÀ KINH CHÍNH THỐNG TỪ KIM KHẨU ĐỨC PHẬT, TÔI SẼ CHỊU CẮT LƯỠI DƯỚI ĐỊA NGỤC VÔ GIÁN, NGÀN TỶ NĂM KHÔNG THOÁT KHỎI.

        2. NẾU NHỮNG GÌ TÔI VIẾT LÀ SỰ THỰC ĐÚNG VỚI CHÂN LÝ ĐỨC PHẬT, TÔI CHỈ NGUYỆN XIN TẤT CẢ NHỮNG AI ĐANG CÓ NIỀM TIN VÀO NGỤY THƯ NÀY, SẼ ĐƯỢC CHUYỂN TÂM HỒI Ý.

 

          3. NGUYỆN CHO BẢN THÂN TÔI NOI GƯƠNG VỊ THẦY, TIẾP TỤC PHÁ BỎ TÀ KIẾN, DỰNG XÂY CHÁNH KIẾN NHÀ PHẬT TỪ ĐÂY CHO ĐẾN KHI GIÁC NGỘ TỐI THƯỢNG.

Ngày 12/11/2012

Đáo Bỉ Ngạn cẩn chí

  1. Mật Chánh Hoa says:
    Kính bạch Thầy!
    Con đã đọc bài rồi ạ.
    Con cầu nguyện Thầy, Cô sức khoẻ và sự trường thọ vì sự nghiệp hoằng dương Chánh pháp.
    Cầu nguyện chúng sanh tỉnh thức với trạng thái giác ngộ.
    Om Mani Padme Hum
  2. Mật Tuyết Hoa says:
    Kính bạch Thầy,

    Con đã đọc bài này rồi. Con xin cám ơn sự khai thị của Thầy.
    Con xin nguyện cầu sức khỏe và sự trường thọ đến Thầy Cô vì sự nghiệp hoằng dương chánh pháp lợi lạc chúng sanh.
    Nguyện cầu tất cả chúng sanh thành tựu hạnh phúc Phật tánh.

    Kính Thầy.

  3. Mật Hà Tiến. says:
    Kính Bạch Thầy!
    Con đã đọc xong bài viết này.
    Om Mani Padme Hum.
  4. Mật Tuấn Giác says:
    Thưa Thầy.
    Con đã đọc bài viết này rồi
    con cảm ơn Thầy đã khai thị.
    Om mani padme hum.
  5. Mật Huệ Thành says:
    Kính bạch Thầy!
    Con đã đọc bài rồi ạ. Con cảm ơn Thầy đã khai thị cho chúng con.
    Con nguyện cầu cho sức khỏe Thầy Cô vì lợi lạc cho chúng sanh.
    Con xin nguyện cầu cho tất cả chúng sanh mọi người mọi loài đều được được sống trong chánh Pháp.
    Om mani padme hum!
  6. Hoàng Thị Nguyệt says:
    Thưa Thầy
    Con Mật Lưu Ly – Hoàng Thị Nguyệt đã đọc bài viết này rồi ạ.
    Con cầu nguyện sức khoẻ và sự trường thọ đến Thầy Cô vì lợi lạc chúng sanh.
    Cầu nguyện cho tất cả chúng sanh thành tựu hạnh phúc Phật tánh.
    Om mani padme hum!
  7. Quảng Thắng says:
    Kính bạch Thầy.
    Con đã đọc bài viết này rồi ạ. Con cảm ơn thầy
  8. Quảng Thắng says:
    Kính bạch Thầy.
    Con đã đọc bài viết này rồi ạ. Con cảm ơn thầy.
  9. Mạc Thị Duyên says:
    kính bạch Thầy!

    con đã đọc bài này rồi,có rất nhiều người ngộ nhận bản thân con nghĩ mình cũng có lúc không tránh khỏi những ngộ nhận trong cuộc sống. Con tầm cảm ơn Thầy đã mang đến cho con,cho những chúng sanh những hiểu biết, những nhận định đúng đắn hơn trong cuộc sống.

    co cầu nguyện cho sức khỏe của Thầy luôn mạnh khỏe.

  10. Mật Hồng Nguyện says:

    Kính Bạch Thầy
    Con Mật Hồng Nguyện đã đọc bài viết này rồi ạ
    Con thấy không it người cũng như bản thân con cũng k tránh khỏi ngộ nhận. Con cám ơn thầy đã khai thị cho con hiểu và nên tránh những điều đó.
    Con cầu nguyện cho sức khoẻ Thầy Cô trường thọ vì lợi lạc chúng sanh
    Cầu nguyện cho chúng sanh tỉnh thức với trạng thái giác ngộ
    Om mani padme hum

  11. Công Giác says:
    Kính bạch Thầy. Con đã đọc bài này rồi ạ. Giờ con mới biết kinh VU LAN là ngụy tạo của người Tàu. Con xin hoan hỉ khi được đọc những lời giảng của thầy

    Cầu nguyện các Thầy Cô thân tâm thường an lành.

    Nam Mô A Di Đà Phật.

  12. Trần Thị Ngát (Mật Tự Tâm) says:
    Kính bạch Thầy !
    Con đã đọc bài này rồi ạ.
    Con xin cầu nguyện cho sức khỏe và sự trường thọ của Thầy ,Cô vì lợi lạc chúng sanh. Cầu cho tất cả chúng sanh có được đức tính khiêm tốn và ý thức hổ thẹn.
    Om mani Padme hum.
  13. Hai Nguyen says:
    Thưa Thầy, con đã đọc bài viết này rồi. Cảm ơn Thầy.

    Kính.

  14. Lê Thịnh says:

    Kính bạch Thầy !
    Con Mật Tuệ Viễn ( Lê Thịnh) con đã đocj bài rồi ạ . Con tạ iwn Thầy đã khai thị cho chúng con
    Con cầu nguyện Thầy Cô trụ thế lâu dài vì lợi lạc chúng sanh .
    cầu nguyện cho tất cả chúng sanh luôn thức tỉnh trong trạng thái giác ngộ .
    Om mani padme hum

  15. Mật Nguyên Tánh says:
    Kính bạch Thầy,

    Con đọc bài này rồi ạ.

    Con hoan hỷ tán thán những phân tích và luận giải của tác giả Đáo Bỉ Ngạn trong bài viết.  Qua sự phân tích với luận chứng và luận cứ đầy đủ, tác giả Đáo Bỉ Ngạn đã cho chúng trò và bạn đọc thấy rõ bản kinh Vu lan bồn là ngụy tạo, nhưng do sự ngộ nhận và thái độ nô lệ tâm linh vào những vị “đầu tròn áo vuông” nên cứ thế mà mù quáng thực hành theo suốt hàng ngàn năm qua. Thật kinh khủng! Qua đây con nhớ lại giáo huấn của Liên Hoa Sanh đại sĩ “Bậc giác ngộ hiện thân với hình dạng bất định, kẻ hạ trí lừa dối là bọn đạo đức giả đội lốt tu hành, đừng lầm đồng là vàng”.

    Con hoan hỷ tán thán công hạnh của vị Thầy, tán thán thiện hạnh của các đạo huynh và đạo hữu trong suốt thời gian qua đối với bản kinh ngụy tạo Vu lan bồn này vì lợi lạc cho tất cả chúng sanh.

    Đệ tử cầu nguyện cho tất cả chúng sanh uống được tinh túy Cam lồ.

    Đệ tử cầu nguyện cho sức khỏe của Thầy và Cô vì lợi lạc cho tất cả chúng sanh.

    Kính Thầy,

    Om Mani Padme Hum

  16. Kính bạch Thầy!
    Con cảm tạ ơn Thầy đã cho đăng tải bài viết của tác giả Đáo Bỉ Ngạn để chúng con và bạn đọc hữu duyên được tỏ tường, chấm dứt sự ngộ nhận về nguỵ kinh Vu lan bồn những như bản chất của ông Nguyễn Minh Tiến. Qua sự phân tích, luận giải của tác giả Đáo Bỉ Ngạn, con hiểu rằng sự ngộ nhận trong đời thường có thể gây ra những hậu quả đáng tiếc, song sự ngộ nhận trong đạo Phật thì hậu quả gây ra cho thân căn huệ mạng còn kéo dài tới ngàn kiếp. Con hiểu rằng ngộ nhận là sự lầm tưởng hình thức bên ngoài và bản chất bên trong là một, trong khi thực tế con người thường đeo những chiếc mặt nạ tâm thức để che đậy mục đích thực sự của hành động khiến cho hình thức bên ngoài và bản chất bên trong không phải lúc nào cũng trùng khít. Thầy đã dạy chúng con rằng: “ Mọi thiện hạnh không xuất phát từ Bồ đề tâm đều là tà hạnh”. Dựa vào hành trạng của ông Nguyễn Minh Tiến qua sự phân tích của tác giả Đáo Bỉ Ngạn, con thêm hiểu rằng, không phải cứ một vị học giả có hiểu biết uyên thâm, tự nhận mình là cư sĩ, hay dịch sách về đạo Phật là hành vi đạo đức nhất định sẽ chuẩn mực. Nếu nói viết một đằng, thực hiện một nẻo, trong công việc vừa đá bóng vừa thổi còi, điều gì đúng đắn nhưng bất lợi cho mình thì ngấm ngầm xoá đi, ém lại; không công khai, không minh bạch trong đối luận; trong đời thường thì nịnh trên nạt dưới, trong hoạt động học thuật thì chuyên ” ói mửa” giáo lý mà chẳng thấm nhuần giáo pháp – những người như vậy dù có phục sức diêm dúa đến đâu thì rốt cục cũng chỉ là con của Ma, không xứng đáng là một người con Phật. Chính bản thân ông Nguyễn Minh Tiến cũng đã tự nhận mình: ” Tôi không phải học giả hay hành giả gì cả” thì ông ấy lấy đâu tư cách để cao giọng khuyên: ” người Phật tử nên đọc kinh điển như thế nào”. Điều đó cho thấy những lời nói tỏ vẻ khiêm nhường của ông ta chỉ là đạo đức giả nhằm che đậy bản chất đầy ngã mạn bên trong mà thôi. Người ta ngộ nhận về ông Nguyễn Minh Tiến bởi dựa theo định kiến thế gian là lấy bằng cấp danh vị làm chuẩn mực, cũng như ngộ nhận về Kinh Vu Lan Bồn và nhiều nguỵ kinh, nguỵ thư khác của Trung Quốc khi những nguỵ thư nguỵ kinh ấy lại được bảo chứng bởi những chùa to, tự viện lớn, và người rao giảng chúng không ai khác lại là những vị đầu tròn áo vuông là những đại đức, thượng toạ dù cho nội dung của những kinh này đã được nguỵ tạo, đi ngược lại chân lí nhà Phật, trước là để phục vụ cho mục đích củng cố quyền lực của giai cấp phong kiến vào những thời điểm lịch sử nhất định, và sau lại phục vụ cho mục đích thanh danh lợi dưỡng của tà sư, ác tri thức.
    Con hoan hỷ tán thán công hạnh của vị Thầy đã vì vận mệnh tâm linh của chúng sanh mà không ngừng tác pháp chiếu quang, giương cao ngọn cở đả tà xây chánh với tinh thần kiên dũng bất khuất: “ Dùng chánh kiến làm đòn xoay tà kiến/ Mỗi câu văn là bom đạn chống tà quyền”. Con cầu nguyện cho những truyền thống vô minh làm hại đến huệ mạng tâm linh của chúng sanh sẽ bị quét sạch.
    Cầu nguyện chúng sanh tỉnh thức với trạng thái giác ngộ.
    Om mani padme hum.

  17. Mật Diệu Linh says:

    Kính bạch Thầy.

    Con đã đọc xong bài viết này rồi thưa Thầy.

    Con hoan hỷ tán thán loạt bài của tác giả Đáo Bỉ Ngạn thưa Thầy.

    Tác giả ” Nhờ tinh thần kinh Kalama soi sáng, qua lăng kính ” tứ pháp ấn ” của nhà Phật chiếu soi, qua luận giải bằng ” ngũ lượng phương tiện biện giải “!của đạo Phật, qua nghiêm tầm giáo điển có chọn lọc, tôi không và thệ nguyện rằng :

    1. KINH ” VU LAN BỒN ” ” ĐẠI BÁO PHỤ MẪU TRỌNG ÂN ” LÀ NGUỴ THƯ, NẾU CHÚNG LÀ KINH CHÍNH THỐNG TỪ KIM KHẨU ĐỨC PHẬT, TÔI SẼ CHỊU CẮT LƯỠI DƯỚI ĐỊA NGỤC VÔ GIÁN, NGÀN TỶ NĂM KHÔNG THOÁT KHỎI.

    2. NẾU NHỮNG GÌ TÔI VIẾT LÀ SỰ THỰC ĐÚNG VỚI CHÂN LÝ ĐỨC PHẬT, TÔI CHỈ NGUYỆN XIN TẤT CẢ NHỮNG AI ĐANG CÓ NIỀM TIN VÀO NGUỴ THƯ NÀY, SẼ ĐƯỢC CHUYỂN TÂM HỒI Ý. “.lời khẳng định đanh thép của tác giả Đáo Bỉ Ngạn đã cho chúng trò và chúng sanh hữu duyên thấy rõ được kinh “Vu Lan Bồn”  là ngụy thư để từ đây có cái nhìn đúng đắn không còn mù quáng về sự ngộ nhận đã ăn sâu vào tâm thức, biến mình thành nô lệ tâm linh, làm miếng mồi cho những kẻ tà kiến, tà sư mượn đạo tạo đời.

    Cảm ơn loạt bài viết lợi lạc của tác giả Đáo Bỉ Ngạn. Cầu nguyện loạt bài viết này lan tỏa khắp muôn nơi vì lợi lạc của mọi chúng sanh.

    Con cầu nguyện sức khỏe sự trường thọ của Thầy cô vì lợi lạc của mọi chúng sanh.

    Cầu nguyện cho tất cả chúng sanh thành tựu hạnh phúc Phật tánh.

    Om Mani Padme Hum!

     

     

     

  18. Mật Giu Se says:
    Kính Bạch Thầy!

    Con đã đọc bài này rồi ạ

    Cầu nguyện chúng sanh thức tỉnh với trạng thái giác ngộ

    Om mani padme hum!

  19. Đỗ Thanh Sơn says:
    Kính bạch Thầy,

    Con đã đọc bài viết này rồi ạ

    Con cảm ơn Thầy

  20. Đỗ Thanh Sơn says:
    Kính bạch Thầy,

    Con đã đọc bài viết này rồi ạ

    Con cảm ơn Thầy

  21. Mật Từ says:
    Kính bạch Thầy,

    Con đã đọc bài viết này rồi ạ. Con hoan hỷ tán thán công hạnh tác pháp chiếu quang qua bài viết của tác giả Đáo Bỉ Ngạn.

    Cầu nguyện tất cả chúng sanh luôn tỉnh thức với trạng thái giác ngộ.

    Om Mani Padme Hum.

  22. Mật Hồng Thức says:

    Kính Bạch Thầy,

    Con đã đọc bài rồi, con cảm ơn Thầy .

    Con cầu nguyện cho sức khỏe và trường thọ của Thầy Cô vì lợi lạc chúng sanh.

  23. BÙI THỊ HUYỀN says:
    Kính bạch Thầy,

    Con hoan hỷ bài viết của Thầy. Con cầu nguyện tất cả chúng sanh giác ngộ từ lời dạy của Thầy.

  24. Mật Vĩnh Nguyên (Nguyễn Văn Vịnh) says:
    Kính bạch Thầy!

    Con đã đọc bài. Qua bài con thấy Tà sẽ không bao giờ thắng Chính được.

    Con cầu nguyện Thầy Cô thật nhiều sức khỏe vì lợi lạc chúng sanh.

    Om Mani Padme Hum!

  25. Mật Cao Thái(Trần Văn Hùng) says:
    Kính bạch Thầy.

    Con hoan hỷ khi đọc bài viết của Thầy.

    Con thành tâm cầu nguyện ánh sáng Chánh kiến Phật pháp tỏa khắp muôn nơi.

    Con xin thành tâm cầu nguyện Thầy , Cô trụ thế lâu dài vì lợi lạc của chúng sanh.

    Cầu nguyện tất cả chúng sanh thức tỉnh trong trạng thái giác ngộ.

    Om mani padme hum!

     

  26. Đào Quang Trung says:

    Kính bạch Thầy,

    Con đã đọc bài rồi ạ.

    Con cầu nguyện cho sức khoẻ và sự trường thọ của Thầy vì lợi lạc chúng sanh.

    Om mani padme hum.

  27. Mật Diệu trang says:
    Kính bạch THẦY.

    Con đã đọc bài này rồi ạ.

    Con nguyện cầu cho sức khỏe và sự trường thọ của Thầy Cô vì sự nghiệp hoàng dương chánh pháp.

    OM MA NI PADME HUM

  28. Mật Thắng says:
    Kính bạch Thầy!

    Con rất hoan hỷ khi đọc bài ” Ngộ Nhận”

    Con xin thành tâm đảnh lễ Thầy, Cô

    Cầu nguyện cho chúng sanh tỉnh thức với trạng thái giác ngộ.

    Om Ah Hum.

     

     

  29. Đoàn Thị Yên says:

    Kính bạch Thầy,

    Con Mật Thuận An đã đọc bài rồi ạ.

    Con cầu nguyện cho sự trường thọ của Thầy,  Cô vì lợi lạc của chúng sanh.

    Cầu nguyện cho tất thảy chúng sanh thành tựu hạnh phúc Phật tánh.

    Om mani pad me hum.

  30. Đỗ Thị Mến says:
    Kính bạch Thầy con hoan hỉ khi đọc bài viết này ạ

    Con xin cầu nguyện cho sức khỏe và sự trường thọ của Thầy cô vì lợi lạc chúng sanh.

  31. Chinh nguyen says:
    Kính bạch Thầy!

    Con Mật Lưu Thuỷ đã đọc xong bài này rồi ạ.

    Con cầu nguyện cho sức khoẻ của Thầy Cô vì lợi lạc chúng sanh.

    Cầu nguyện cho tất thảy chúng sanh thành tựu hạnh phúc Phật tánh

    om mani padme hum!

     

  32. Bùi Xuân Hải says:
    Kính bạch Thầy!

    Con đã đọc bài này rồi ạ.

    Om mani padme hum

  33. VU TRUNG KIEN says:
    Kính Bạch Thầy,

    con đã đọc bài này rồi j,

    cầu nguyện sức khoẻ và sự trường thọ của Thầy Cô,

    Om Mani Padme Hum.

  34. Nguyễn Bảo Trung says:
    Kính bạch Thầy, con là Mật Pháp Bảo. Bài Pháp của Thầy con đã đọc trong những lần đầu tiên truy cập vào trang Web chanhtuduy.com.

    Nhưng do thời điểm đó, con đã phạm lỗi khi không comment để cảm ơn Thầy đã khai thị nay con xin được sám hối.

    Trong quá trình tìm hiểu trên mạng, con cũng đã đọc được những bài viết về vấn đề kinh thư giả mạo là có thật và trong đó có kinh Vu Lan Bồn . (Con được đọc qua phần bài viết trả lời của Thầy Thích Thông Lạc trên mạng.)

    Tuy vậy, do con tâm còn bị vô minh chi phối hiểu biết và kiến thức còn hạn hẹp nên con chỉ nghi ngờ chứ chưa xác quyết .

    Nay khi được Thầy khai thị, tâm còn càng chắc chắn và con cũng mong rằng sẽ ngày càng có nhiều các vị Đạo sư chân chính như Thầy bóc trần các ngụy kinh để những người sơ cơ như con không bị sa vào tà kiến.

    Com cảm tạ ân đức của Thầy.

    Om ma ni pad me hum

     

  35. Mật Hồng Ngân says:
    Kính bạch Thầy.

    Con Mật Hồng Ngân (Vũ Thị Ngân Anh) đã đọc bài rồi ạ.

    Con cảm ơn THầy

  36. Bùi tất sơn says:
    Kính bạch Thầy.

    Con đã đọc bài này rồi ạ. Con cảm tạ ơn Thầy.

    Om mani pabme hum!

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

DMCA.com Protection Status