Feb 6, 2021

Posted by in Giảng Pháp | 60 Comments

Đạo sư Viện trưởng Thinley Nguyên Thành bình giảng: TÂM KINH BÁT NHÃ THEO QUAN KIẾN TÁNH KHÔNG (Rằm tháng 7 âm lịch, Phật lịch 2562 – 2018)

Phần 1:

 

Phần 2:

Thầy tụng Tâm kinh bát nhã

Thầy trong trang phục của Viện ITA

 

 

  1. Kính bạch Thầy!
    Con hoan hỷ khi được nghe bài giảng của Thầy. Con cảm tạ ơn Thầy đã ban cho con cơ hội được nghe một bài giảng quý báu: “Đạo sư Viện trưởng Thinley Nguyên Thành bình giảng: Tâm kinh bát nhã theo quan kiến tánh không”
    Tâm kinh Bát Nhã là một bài kinh ý nghĩa uyên áo, thâm sâu không phải hành giả nào cũng được tiếp cận với thực nghĩa của lời kinh. Vậy mà hôn nay, chúng con là những chúng sanh rất bình thường, thậm chí tầm thường được Thầy ban cho một cơ hội quý báu, được nghe Thầy bình giảng về tâm kinh Bát Nhã theo quan kiến tánh không. Đây là một bài giảng làm rúng động tâm con, vỡ òa trong con niềm hoan hỷ cũng như sự biết ơn vì hiểu được những điều tinh túy và thực nghĩa của tánh không mà có lẽ phải trải qua nhiều năm thực hành, trải nghiệm cũng như quán chiếu từ trí tuệ của vị Đạo sư như Thầy mới có thể giảng cho chúng con nghe về tánh không một cách đơn giản, dễ hiểu và đưa ra một mẫu số chung để so sánh đối chiếu như vậy. Đồng thời Thầy cũng nêu rõ được hiển giáo hiểu về tánh không như thế nào và đối với kim cang thừa, hành giả tiếp cận tánh không ra sao. Đặc biệt hơn nữa, học trò Mật gia Song Nguyễn ngày ngày được Thầy dạy phương pháp thực hành đều tiếp cận tánh không thông qua lục diệu pháp môn và những phương tiện thiện xảo cùng với phương pháp sư phạm siêu việt của Thầy.
    Nhiều hành giả thực hành pháp nhiều năm miên mật, ngồi nát bồ đoàn nhưng vẫn không chạm vào được mép cửa tánh không, vẫn loanh hoay tìm được thoát luân hồi sinh tử. Nhiều kẻ mang danh là học giả, hành giả cao cấp nhưng khi nói đến thực nghĩa về tánh không đều lúng túng. Vậy mà ơn phước làm sao hôm nay con được đặc điểm của tánh không, đó là tất cả các sự vật, hiện tượng và con người đều nằm trong ba tính chất sau đây được gọi là tánh không; đó là: (1) không tự có, (2) phải tạo lập bởi duyên khởi trùng trùng và (3) bị tác động bởi vô thường. Đó là mẫu số chúng để xét tính chất của mọi sự vật hiện tượng, kể cả con người. Thầy đã đưa ra vì dụ: sắc tức thị không và chứng minh được tính chất tánh không của sắc, rồi của thọ, tưởng, hành thức. Vì vì ngủ uẫn giai không nên trong chân không, không có sắc thọ tưởng hành thực, không có mắt tai mũi lưỡi thân ý, không có sắc thanh hương vị xúc pháp, không có nhãn giới, không có ý thức giơi, không có vô minh, cũng không có cái hết vô minh….do vậy, tâm hành giả không sợ hãi, xã hẳn mộng tưởng điên đảo, đạt đến cứu cánh Niết Bàn. Đó là theo hiển giáo
    Còn với mật giáo, để quán chiếu “ngũ uẩn giai không”, Thầy cũng luận giảng rõ lời dạy của đức Quán Thế Âm “ Bát nhã ba la mật đa là đại thần chú, là đại minh chú, là vô thượng chú, là vô đẳng đẳng chú, trừ được hết thảy khổ chân thận không hư”. Đó là thần chú gồm đại tri thần chú, đại minh thần chú, vô thượng chú, vô đẳng đẳng chú. Đại tri thần chú là thần chú giúp kích hoạt năng lực tư duy, động lực tư duy và có được hiệu quả tư duy, được đáng ca ngợi, đáng xưng tụng; Thầy dạy chúng con trì niệm thần chú với ấn quyết là đại tri thần chú. Đối với đại minh thần chú có nghĩa là sau biết sâu, biết những gì cần biết, phá tan màn vô minh và phát ra ánh sáng của chánh kiến, đó là quán tưởng Bổn tổn bên ngoài. Vô thượng chú là có ấn quyết, ngồi kiết già và quán tưởng Bổn tôn bên trong. Vô đẳng đẳng chú là thần chú không gì sánh được, khi đó hành giả quán mình chính là Bổn tôn. Như vậy, từng cấp thần chú khác nhau, hành giả trừ dần được khổ đau, phiền não. Đối với phương pháp này thì hành giả đi từ thần chú vào tánh không và do vậy cần phải có một bậc Thầy chỉ dạy thì hành giả Mật thừa mới thành tựu được. Và do mọi thần chú đều có công năng như nhau nên học trò Mật gia Song Nguyễn như chúng con được Thầy dạy thực hành đại tri thần chú, đại minh thần chú, vô thượng chú, vô đẳng đẳng chú thông qua phương pháp thực hành trì niệm thần chú Mani cùng các phương pháp và phương tiện thiện xảo khác.
    Ứng dụng thần chú để khai giác thì ngoài việc niệm thần chú, chúng con được Thầy dạy thông qua các phương tiện khác. Đối với đại tri thần chú, Thầy dạy chúng con tán thán chư Phật, tán thán công hạnh, công đức của chư Phật, thánh chúng thông qua Đạo sư Mật giáo. Thầy dạy chúng con thường xuyên hoan hỷ tán thán thiện hạnh của người khác, của chúng sanh, kể cả con chó và con rùa.
    Đối với đại minh thần chú thì chúng con được thực hành, diễn tập hàng ngày thông qua chánh kiến quang minh tam muội, để có được chánh tư duy mà minh định chánh tà, chân ngụy; đồng thời cho chúng con cơ hội được “sáng” lên về trí tuệ cũng như phẩm chất của hành giả là quang minh chính đại, dũng cảm đả tà xây chánh vì lợi lạc của bản thân và tha nhân. Bằng việc tinh tấn thực hành đọc bài và viết comment trên chanhtuduy.com, giúp chúng con tạo được vô lượng công đức, tịnh hóa nghiệp chướng và có được sự thành công trong đời này với hạnh phúc tự tâm, hanh thông thế sự, thành đạt xã hội và chắc chắn được cực lạc đời sau vì ngày ngày con được tiếp cận với ánh sáng trí tuệ Phật đà.
    Với vô thượng chú với nghĩa cao diệu, Thầy dạy chúng con khởi phát niềm kiêu hãnh thiêng liêng khi được là hành giả Mật thừa, là đệ tử của Thầy Thinley Nguyên Thành, vị Đạo sư chân chính vì “Từ sự gia trì của Đạo sư, đệ tử thụ nhận được tất cả những phẩm chất giải thoát cho tới khi giác ngộ, từ hạnh xả ly, Bồ Đề tâm, chánh kiến, và tiếp đến giai đoạn phát triển và thành tựu.” (Lạt ma Zopa trong “Tri kiến thanh tịnh đối với Bậc Thầy trong Kim cương thừa”) Bởi vì những thành tựu không thể nghĩ bàn của Mật gia Song Nguyễn nói chung, của các học trò ở Mật gia Song Nguyễn như đạo huynh Mật Từ, đạo hữu Mật Hồng Tuyến là xuất dương du học. Vô đẳng đẳng chú là bất khả tư nghì. Trong gian khổ cùng cực vẫn giữ vững niềm tin kiên cố vào Thầy Phật Pháp Tăng, đó chính là bất khả tư nghì.
    Và con ghi nhớ rằng chân không diệu hữu, chấp nhận sự có trong lý vô thường, trong lý vô tự tánh, hiểu được sự vô thường của mọi sự vật hiện tượng nên khi đối diện với bất kỳ gian khó nào cũng thấy chúng như ảo huyễn và tinh tấn thực hành các tu pháp Thầy đã ban cho để vững bước trên hành trình giác ngộ.
    Ngoài ra, Thầy dạy chúng con rèn luyện phẩm tính hoan hỷ với thiện hạnh của người khác, rèn đạo phong, rèn đạo lực và viên thành chính đẳng chính giác. Để đạt 4 mục tiêu trên thì cần phương tiện trí huệ. Đó chính là trí huệ phương tiện ứng dụng vào đời sống hàng ngày để viên thành đời đạo.
    Con chân thành cảm tạ ơn Thầy đã cho con được nghe một bài giảng lợi lạc và ý nghĩa, từ trước đến nay con chưa được nghe ai giảng về phạm trù này rõ rằng, lý sự viên dung như vậy. Qua đó, con càng cảm niệm sâu sắc lời dạy của ngài Atisha: “vị Thầy từ bi hơn đức Phật, lời Thầy quan trọng hơn kinh sách.” Và “Khi vị Thầy đưa ra lời khuyên dạy, đó có nghĩa là lời của tất thảy chư Phật, và khi vị Thầy truyền trao giáo pháp thì đó là “thiện hạnh của tất thảy” chư Phật. Người đệ tử phải luôn luôn suy nghĩ theo cách đó và tôn kính vị Thầy theo cách đó. Khi ấy, không chỉ vị Thầy mà mỗi hạt bụi trên thân linh thiêng, thậm chí một đầu lông, đều hiện vô số chư Phật. Khi phụng sự các vị Thầy với trí tuệ như vậy, thì đó là phụng sự bất khả tư nghì, sự tịnh hóa bất khả tư nghì… Tâm chí thành tới vị Thầy là quan trọng nhất, bởi Kim cương thừa quan niệm tất cả sự thành tựu đều bắt nguồn từ nơi Đạo. Từ sự gia trì của Đạo sư, đệ tử thụ nhận được tất cả những phẩm chất giải thoát cho tới khi giác ngộ, từ hạnh xả ly, Bồ Đề tâm, chánh kiến, và tiếp đến giai đoạn phát triển và thành tựu.” (Lạt ma Zopa trong “Tri kiến thanh tịnh đối với Bậc Thầy trong Kim cương thừa”)
    Con thành tâm cầu nguyện cho sức khỏe và sự trường thọ của Thầy Cô vì sự lợi lạc của tất cả chúng sanh.
    Cầu nguyện tất cả chúng sanh thành tựu hạnh phúc của Phật tánh.
    Om Mani Padme Hum.

  2. Kính bạch Thầy!

    Con cảm tạ Thầy từ bi luận giảng cho chúng con nghe yếu nghĩa của bài  “Tâm Kinh Bát Nhã”.

    Con hiểu được tất cả sự vật hiện tượng đều không tự tánh, được thành lập bởi trùng trùng duyên khởi và tất cả đều  vô thường. Trong chân lý tuyệt đối mọi sự vật hiện tượng không sinh không diệt, có hôi tụ có chia ly, có hình thành có hủy hoại,  có hủy hoại có hình thành theo vòng luân hồi không ngừng nghỉ. Vì vậy chúng ta không nên bám chấp dù chấp cho tất cả những khổ đau hoặc các đối tượng hấp dẫn.  Như Thogme zangpo đã khuyến cáo “Khi đối diện với các đối tượng hấp dẫn, dù thấy chúng đẹp đẽ như  cầu vồng giữa hạ, hãy biết rằng chúng không có tự tánh và hãy xả bỏ luyến ái chấp thủ. Đó là Pháp hành Bồ tát đạo”. “Mọi hình thức khổ đau như mộng ảo. Chấp các huyễ ảnh sẽ nhọc tâm ta. Bởi vậy khi gặp nghịch cảnh hãy xem chúng như ảo huyễn. Đó là pháp hành Bồ tát đạo”.

    Chỉ có cõi Phật mới là nơi vĩnh hằng bất sinh bất diệt, chấm dứt mọi phiền não khổ đau. Con cảm tạ Thầy đã phát lồ ra sáu tu pháp tâm linh để chúng con sống trung dung không bám chấp được an lạc đời này cực lạc đời sau.

    Con cầu nguyện cho sức khỏe và sự trường thọ của Thầy Cô.

    Con cầu nguyện cho tất cả chúng sanh thành tựu hạnh phúc Phật tánh.

    Om ah hum!

  3. Kính bạch Thầy

    Con hoan hỷ được nghe bài giảng của vị Thầy

    Con thành tâm tán thán công hạnh  bồ đề tâm của vị  Thầy đã từ bi luận giảng cho chúng con  hiểu rỏ và sâu sắc về thực nghĩa  tâm kinh bát nhã

    Con cảm tạ ơn Thầy  đã cho chúng con  được nghe  một bài giảng lợi lạc và ý nghĩa

    Con thành tâm cầu nguyện cho sức khỏe Thầy Cô trụ thế dài lâu để giáo hóa chúng sanh chúng con

    Cầu mong tất cả chúng sanh thành tựu hạnh phúc Phật tánh

    Om mani padme hum

  4. Mật Phê Rô says:

    Kính Bạch Thầy !

    Con đã đọc bài này rồi ạ . Con hoan hỷ tán thán công hạnh vị Thầy vì chúng sanh hữu tình mà tác pháp chiếu quang đến món hàng giả kém chất lượng là “ngụy kinh Vu Lan Bồn”.

    Cho dù đã có rất nhiều bài viết khẳng định rằng Vu Lan Bồn là ngụy kinh do người tàu ngụy tạo nhưng vẫn có nhiều cá nhân và tổ chức vì muốn thu lợi cho mình mà dài tay bình loạn phải làm như thế này , phải làm như thế kia mặc dù họ chỉ là một cái chợ… lớn .

    Con hoan hỷ với lời dạy vị Thầy :” tôi không lạm bàn đến những người con thực sự hiếu thảo , những Phật tử cư sĩ chân chánh , bởi vì nếu đã như vậy , họ biết làm thế nào để báo hiếu , không phải một ngày , một tháng , một năm mà là cả đời ; không phải ma chay linh đình mà là hầu hạ khi còn sống , không phải gây ra nỗi ô nhục cho gia đình , dòng tộc mà là sống thiện lành đúng đạo lý , không phải cứ mỗi năm cúng trai tăng , dự lễ , tham gia lễ hội Vu Lan bồn mà là hành theo chánh pháp trên nền tảng chánh kiến”.

    Con cảm ơn vị Thầy đã viết bài .

    Con cầu nguyện Thầy Cô sức khỏe , trường thọ vì đại nghiệp hoằng dương chánh pháp , làm lợi lạc tất cả chúng sanh .

    Cầu nguyện tất cả chúng sanh được nương tựa bóng lành Thầy , Phật , Pháp , Tăng .

    Om Mani Padme Hum !

  5. Kính bạch Thầy!

    Con cảm tạ ơn Thầy đã từ bi giảng bài pháp quý báu, hạ tầng ngữ nghĩa cao diệu của “Tâm kinh Bát Nhã” theo quan kiến tánh không.

    Trước khi chưa được nghe bài giảng của Thầy, mỗi khi đọc “ Tâm kinh Bát Nhã”, con cảm thấy mình như một con vẹt chỉ biết đọc tụng. Nhưng sau khi được nghe bài giảng của Thầy nỗi mặc cảm của con vẹt đã xóa dần trong tâm con.

    Qua bài giảng của Thầy đã giúp con hiểu được vì sao mà “sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc , sắc tức là không, không tức là sắc, thọ tưởng hành thức cũng đều như thế”. Sự “ chẳng khác” tức là “giống nhau” giữa sắc , thọ, tưởng, hành thức với không bởi vì cùng giống nhau mẫu số chung là tính chất vô tự tánh theo chân lý tuyệt đối tức là tánh không  : (1) không tự có, (2) tạo lập bởi duyên khởi trùng trùng, (3) bị tác động bởi vô thường. Khi đã hiểu bản chất chân thật của sự vật, hiện tượng thì không còn bám chấp vào sắc, thọ, tưởng, hành, thức nữa mà giữ tâm quân bình, thái độ hân thưởng và tinh thần vô úy từ đó tránh xa mộng tưởng điên đảo đạt dần đến cứu cánh niết bàn mà Quán Tự Tại Bồ Tát đã khẳng định: “Bồ Tát y theo Bát Nhã Ba La mật đa nên tâm không ngăn ngại, vì không ngăn ngại nên không sợ hãi, xa hẳn mộng tưởng điên đảo đạt tới cứu cánh Niết bàn”.

    Đặc biệt điều làm con dâng lên niềm hoan hỷ đến tột cùng khi được nghe Thầy giảng đó là trong tâm kinh Bát Nhã Quan Âm Bồ Tát Ngài đã chỉ ra có hai con đường đạt tới cứu cánh Niết Bàn:

    ( 1) Hiển giáo : Quán chiếu ngũ uẩn giai không

    (2) Mật Giáo: Lấy kết quả làm con đường, kết quả đó chính là “thần chú” tức là tánh không. Vì vậy khi niệm thần chú tức là luôn quán niệm tánh không mà không cần phải vất vả trải qua giai đoạn quan chiếu “ngũ uẩn giai không” để đi đến quan niệm tánh không như phương pháp (1)

    Qua đó con hiểu được vì sao mà trong Đại nguyện của Quan Âm Bồ Tát, Ngài chỉ dạy: “ Hãy liên tục trì niệm thần chú sáu âm chỉ một điều đó thôi là đủ”. Và con đã hiểu được vì sao sản phẩm trí tuệ của Thầy là “ Một đời người một câu thần chú”.

    Là người cư sỹ bận rộn thế sự đa đoan thì khó có thời gian điều kiện để quán chiếu ngũ uẩn giai không, nhưng trì niệm thần chú thì thực hiện đơn giản, dễ dàng, phù hợp, thực hiện được bất kỳ lúc nào, không phụ thuộc vào không gian, thời gian. Vì vậy phương pháp thứ nhất Bồ Tát Quán Tự Tại chỉ ra phù hợp với đối tượng là tăng, ni với những người sống trong tự viện, ít bận thế sự đa đoan. Còn phương pháp thứ 2 phù hợp với mọi đối tượng, đặc biệt là phù hợp với người còn bận rộn nhiều thế sự.

    Theo bài giảng của Thầy con hiểu điều kiện cần và đủ thực hiện hiệu quả được phương pháp thứ (2) lấy kết quả làm con đường là được vị Thầy chân chính từ bi và trí tuệ trao truyền phương pháp thực hành, ứng dụng trì niệm thần chú phù hợp với căn cơ, phù hợp với tính quốc độ, tính thời đại, tính dân tộc.

    Suy ngẫm đến đây con thấy mình thật may mắn trong kiếp người ngăn ngủi này, không phải sống tách rời với cuốc sống thế sự, không phải vất vả ngày đêm nghiên tầm giáo điển, quán chiếu ngủ uẩn giai không… mà nhờ nương theo tri tuệ và tâm từ bi của vị Thầy, Phật, Pháp Tăng lấy kết quả của các Ngài làm con đường soi sáng giúp cho con thẳng tiến đến bến bờ giác ngộ. Điều quan trọng đối bản thân con đó là luôn quán niệm và trưởng dưỡng tâm sùng kính Đạo sư mà Thánh Giả Mã Minh đã chỉ dạy: “ Sùng kính Đạo sư là nền tảng giác ngộ”

    Con thành tâm cảm tạ ơn Thầy đã từ bi chỉ dạy, dẫn dắt con trên đạo trình giải thoát với phương pháp sư phạm đơn giản, dễ thực hành,dễ ứng dụng mà hiệu quả vô song phù hợp với căn cơ còn chậm lụt của con. Thầy đã đơn giản hóa tinh túy giáo pháp cao diệu đến mức tối giản, tối ưu nhất, gần gũi, gắn liền với cuộc sống đó là Yoga Thanh trí, với phát kiến tâm linh là lục diệu pháp môn và phương tiên xảo là Lâu đài Duy Ma Cật ( chanhtuduy.com). Vì vậy dù bận rộn thế sự đa đoan nhưng cuộc sống của con không tách rời với pháp , Pháp là cuộc sống và cuộc sống chính là pháp, được an lạc đời này, cực lạc đời sau.

    Con thành tâm cầu nguyện sức khỏe và sự trường thọ của Thầy Cô và sự phát triển bền vững của Viện Nghiên cứu tâm lý học & Ứng dụng Yoga Thanh Trí được thành tựu viên mãn vì sự lợi lạc chúng sanh.

    Cầu nguyện chúng sanh hữu duyên sớm được nương tựa nơi Tuê Tri Thức, được thực hành, ứng dụng Yoga Thanh Trí nhờ đó an lạc đời này, cực lạc đời sau.

    Cầu nguyện chúng sanh thành tựu hạnh phúc Phật tánh.

    OM MA NI PAD ME HUM

  6. Mật Danh Hà says:

    Con kính Bạch Thầy.

    Con đã đọc bài này rồi à. Con cầu nguyện Thầy sức khỏe.

  7. Kính bạch Thầy!

    Con hoan hỷ khi được nghe bài giảng ” Tâm kinh bát nhã theo quan kiến tánh không” của Thầy. Con tán thán công hạnh, bồ đề tâm của Thầy đã từ bi luận giảng cho chúng con hiểu được thực nghĩa uyên áo của Tâm kinh bát nhã theo quan kiến tánh không. Với căn cơ chậm lụt của mình, bản thân con cần phải nghe và suy ngẫm thật nhiều hơn nữa mới có thể hiểu được ý nghĩa của bài giảng. Con tán thán thiện hạnh của huynh Mật Diệu Hằng, huynh Mật Viễn với những comment chi tiết, cụ thể những nội dung mà Thầy truyền tải trong bài giảng. Qua đó cũng giúp cho con dễ dàng nắm bắt hơn.

    Con tạ ơn Thầy với bài giảng ý nghĩa, nhiều lợi lạc. Con cầu nguyện cho sức khỏe và sự trường thọ của Thầy, Cô vì lợi lạc của tất cả chúng sanh.

    Cầu nguyện cho tất cả chúng sanh tìm được nơi nương tựa chân thật, thành tựu hạnh phúc của Phật tánh.

    Om Mani Padme Hum!

  8. Thưa Thầy!

    Con  đã nghe xong bài giảng này rồi ah. Con rất hoan hỉ với công hạnh giảng pháp của vị Thầy , qua bài giảng này con hiểu được một chúc về Tâm Kinh Bắc Nhả rằng sắc chẳng khác không ,không chẳng khác sắc  tức là một  con cảm tạ ơn Thầy đã cho dép con và ông Mật Tuấn Giác về Mật Gia để nghe pháp. Con cầu nguyện sức khoẻ và sự trường thọ của thầy cô vì lợi lạc của chúng sanh Om ah hum.

  9. Mật Bích Thuỷ says:

    Kính bạch Thầy!

    Con hoan hỷ được nghe bài giảng của Thầy về “ Tâm Kinh Bát Nhã Theo quan kiến Tánh Không “ .

    Con xin tán thán công hạnh Bồ Đề Tâm của Thầy đã từ bi luận giảng cho chúng con hiểu được thực nghĩa uyên áo của tâm kinh bát nhã theo quan kiến Tánh không . Đây là một bài giảng thật ý nghĩa và thâm sâu về thực nghĩa của Tánh không . Có lẽ trải qua nhiều năm thực hành trải nghiệm cũng như quán chiếu từ  trí tuệ của vị Đạo Sư như Thầy mới có thể giảng cho chúng con nghe về Tánh không một cách đơn giản và dễ hiểu như vậy .

    Con xin thành tâm cầu nguyện cho sức khỏe và sự trường thọ của Thầy Cô vì lợi lạc của tất cả chúng sanh .

    Cầu nguyện cho tất cả chúng sanh được nương tựa bóng  lành Tam Bảo .

    Om Mani Padme Hum!

  10. Mô Phật

    Kính bạch Thầy

    Con thật sự hoan hỷ được nghe bài giảng của Thầy với chủ đề Tâm kinh bát nhã. Trước đây khi tụng bản kinh này, dù trì tụng khá nhuần nhuyễn nhưng thực ra con không có nhiều hiểu biết. Con có tìm đọc sự luận giải của một số vị cao tăng nhưng càng đọc càng thấy mơ hồ bởi những từ ngữ cao siêu, khó hiểu, đọc xong hoảng đến mức nghĩ rằng thà đừng đọc còn hơn. Cho đến hôm nay, khi được nghe Thầy giảng về chủ đề này, con thật sự rúng động tâm can bởi con đã có thể tiếp cận dù một phần nhỏ vào cốt lõi, tinh túy của bản kinh này nhờ trí tuệ và phương pháp sư phạm tuyệt vời của Thầy. Điều này khiến con nhớ đến câu nói của Albert Einstein rằng: “Nếu bạn không thể giải thích đơn giản tức là bạn chưa đủ hiểu rõ” (If you can’t explain it simply, you don’t understand it well enough). Bản kinh này đã được Thầy hạ tầng ngữ nghĩa một cách thấp nhất, tóm tắt cô đọng nhất để bất kỳ ai trong chúng con cũng có thể hiểu được một cách đơn giản nhất thông qua những ví dụ thật hài hước nhưng cũng thật tinh tế đúng như tính chất tinh túy của Tánh không, bản chất của vạn vật, hiện tượng. Qua bài giảng, con đã lĩnh hội được rằng:

    -Bản chất tánh không của mọi sự vật, hiện tượng và con người đều gói gọn trong ba yếu tố cốt lõi sau: (1) Không tự có, (2) Được tạo lập bởi duyên khởi, và (3) Bị tác động bởi vô thường. Ví như “Sắc” chỉ hình tướng, cấu tạo vật lý bên ngoài vốn không tự có mà do nhiều nhân duyên tạo lập mà thành nhưng cũng do nhân duyên mà bị biến đổi, chịu sự tác động của vô thường. Như thân thể của con người không phải tự có mà do nhân duyên cha mẹ gặp gỡ nhau, đồng thời cũng do nhân duyên của người đó với cha mẹ mà thành. Rồi con người đó cũng chịu tác động của vô thường từ khi sinh ra, có khi vừa sinh đã chết và lại tái sanh sang cõi giới khác, có khi sống đến già bệnh rồi chết. Có nghĩa rằng không có gì mãi mãi, không tự sanh và cũng không tự diệt (không sanh không diệt) mà chỉ là sự hình thành bởi duyên khởi và chuyển hóa theo qui luật vô thường. Chính vì vậy “tánh không” và
    “sắc, thọ, tưởng, hành, thức” tưởng khác nhưng chỉ là sự khác biệt về mặt tương đối, chứ không khác về mặt chân lý tuyệt đối vì đều có mẫu số chung là ba yếu tính cốt lõi trên, thể hiện tính chất vô tự tánh của chúng.

    – Mặc dù trong tác phẩm “Một đời người một câu thần chú” của Thầy đã giảng luận về các loại và ý nghĩa của thần chú, nhưng đến bài giảng này con mới thực sự hiểu hơn về sự phân loại thần chú trong bản kinh này và khởi phát niềm kiêu hãnh thiêng liêng của một hành giả Mật giáo bởi để thay vì “quán chiếu ngũ uẩn giai không”, thay vì ngồi nát bồ đoàn như ở Hiển Giáo, chúng con có thể dùng phương tiện cao diệu, bất khả tư nghì, đó chính là “thần chú”, là bản tâm của chư Phật. Đây chính là phương pháp lấy kết quả làm con đường, từ đại tri thần chú, đại minh chú, đại vô thượng chú đến đại vô đẳng đẳng chú, mỗi cấp bậc thần chú này chúng con đều đã được diễn tập, thực hành thông qua các phát kiến tâm linh của Thầy trong suốt mấy năm qua.

     

    Bài giảng khiến con thật xúc động bởi chúng con đã và đang được diễn tập, thực hành ba yếu tính giác ngộ (Xả ly, Bồ đề tâm, Tánh không) ngay từ thuở ban đầu khi mới chập chững bước chân vào cửa đạo mà không hay trong khi ở Hiển Giáo, Tánh không vẫn là một điều gì đó thật xa vời đối với người tu sơ cơ. Sáu phát kiến tâm linh của Thầy (Bát pháp quy y, Chánh kiến quang minh tam muội, Cúng dường bất khả gián đoạn, Liên hoa bách bộ thần chú đà la ni, Bồ đề tâm định quán, Thiền quán Bổn tôn ngũ thứ đệ) đã giúp chúng con cùng một lúc thực hiện đầy đủ cả ba yếu tố này. Trong đó điều khiến con bất ngờ và thấy mới mẻ nhất đó là tu pháp “Liên hoa Bách bộ thần chú đà la ni” và “Thiền quán Bổn tôn ngũ thứ đệ” bởi Thần chú vốn được lưu xuất từ những lần đại định tam muội của chư Phật, đúc kết tất cả tinh ba vi diệu trong vũ trụ, mà Bổn tôn (chư Phật) là là tiêu biểu của Tánh không. Do vậy khi chúng con diễn tập, thực hành các tu pháp này là chúng con dần dần thể nhập vào tánh không. Điều tuyệt vời ở chỗ chúng con không chỉ được học về mặt lý thuyết suông mà nhờ phương tiện trí huệ, Thầy đã giúp chúng con ứng dụng linh hoạt vào đời sống thường ngày để giờ đây chúng con vừa đạt được ba mục tiêu đời này (hạnh phúc tự tâm, thế sự hanh thông, thành đạt xã hội) và mục tiêu tối thượng là vãng sanh Tây phương cực lạc.

    Con xin ghi nhớ lời Thầy rằng chân không luôn hiện hữu, cần chấp nhận sự có trong lý vô thường, trong lý vô tự tánh. Một khi đã hiệu được sự vô tự tánh, lý vô thường của vạn vật thì hành giả sẽ không bị mộng tưởng điên đảo, luôn bình tĩnh đối mặt với gian khó, biết xả ly những gì đáng xả ly để cuối cùng đạt tới cứu cánh Niết Bàn.

    Con xin cảm tạ ơn Thầy đã ban cho con bài pháp tuy đơn giản nhưng cao diệu này.

    Con thành tâm cầu nguyện Thầy Cô thân tâm an tịnh vì lợi lạc của chúng sanh

    Cầu nguyện con luôn tỉnh thức, chánh niệm và chú tâm, noi theo tấm gương thân giáo của Thầy Cô vượt qua, vượt qua mọi khó khăn chướng ngại trên con đường tu tập vì lợi lạc của bản thân và tha nhân.

    Cầu nguyện chúng sanh được uống tinh túy Cam lồ, mở cửa bước vào thành phố Giải thoát.

    Om Ah Hum

  11. Kính Bạch Thầy.

    Con đã nghe xong bài giảng này rồi ạ.

    Con cảm tạ ơn Thầy đã từ bi hạ tầng ngữ nghĩa cao diệu dạy cho chúng con bài pháp “Tâm kinh Bát nhã” theo quan kiến tánh không, ngõ hầu giúp cho chúng con hiểu được tánh không của ngũ uẩn ( sắc, thọ, tưởng, hành, thức) nó không tự có mà được tạo lập bởi trùng trùng duyên khởi và tác động của vô thường, tức là có sinh là phải có diệt. Do đó mà Thầy luôn dạy chúng con không nên bám chấp vào cuộc trần trượt này, nó chỉ là một giấc mơ dễ chịu, vì nó sẽ không tồn tại vĩnh hằng mà luôn thay đổi theo thời gian bởi luật tắc Nhân – Quả nhà Phật.

    Chính vì vậy, vị Thầy đã từ bi chỉ ra, dạy bảo và dẫn dắt chúng con cũng như chúng sanh hữu tình đi trên con đường giải thoát gần nhất, qua sự xác quyết của Quán Âm tự tại và các Bậc thánh đức. Lấy kết quả tánh không làm phương tiện để vào tánh không đạt cứu cánh niết bàn, thông qua thần chú sáu âm (om mani padme hum) của Ngài Quán Âm tự tại và chỉ một là đủ.

    Con cầu nguyện cho sức khỏe và sự trường thọ của Thầy Cô vì hạnh phúc của chúng sanh.

    Cầu mong cho tất cả chúng sanh uống được tinh túy cam lồ.

    Om Mani Padme Hum.

  12. Nguyễn Thanh Xuân says:

    Kính bạch Thầy!

    Con Mật Tấn Lực hoan hỷ nghe xong bài giảng pháp của Thầy rồi ạ.

    Con xin tán thán công hạnh, Bồ đề tâm của vị Thầy đã từ bi luận giảng cho chúng con về Tâm Kinh Bát nhã theo qoan kiến tánh không, một bài kinh uyên áo về nhiều nghĩa, thậm thâm về những đề mục thiền quán. Qua bài giảng của Thầy giúp con hiểu được những điều tinh túy và thực nghĩa của Tánh không một cách dễ hiểu (trước đây con đã đọc bài kinh này vài lần, nhưng do con vô minh nên sự hiểu biết còn quá nông cạn). Vị Thầy đã chỉ ra đặc điểm của Tánh không là tất cả sự vật, hiện tượng và con người đều nằm trong 3 tính cách, bao trùm các hiện tượng… bởi tương lai gọi là Tánh không; 3 tính cách đó là: (1) không tự có, (2) phải tạo lập bởi duyên khởi trùng trùng, (3) bị tác động bởi vô thường. Vị Thầy đã chỉ ra mẫu số chung để xét tính cách của sự vật, hiện tượng và con người là 3 tính cách trên. Vị Thầy đã luận giải, minh định: Sắc là hiện tượng vật lý, cơ chế simh học ( mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) nên thân là sắc và thân không tự có, mà bởi duyên khởi trùng trùng, sắc này sẽ không tồn tại mãi vì vô thường nên thân sẽ già( lão), bệnh mà chết( tử); Vì vậy mà sắc tức không. Tương tự như vậy, vị thầy đã luận giải và chứng minh được tính Tánh không của Thọ, Tường, Hành thức. Vì 5 ( ngũ) uẩn giai không, nên trong chân không, không có Sắc, Thọ, Tưởng, Hành thực, không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý./không có sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp./ không có nhãn giới cũng như không có ý thức giới./ không có vô minh, cũng không có cái hết vô minh./ cho đến già chết, cũng không có cái hết già chêt./ … Bồ tát y theo Bát nhã ba la mật đa nên tâm không ngăn ngại./ vì không ngăn ngại nên không sợ hãi./ xa hẳn mộng tưởng điên đảo./ đạt tới cứu cánh Niết bàn./ Chu Phật ba đời cũng y vào Bát nhã ba la mật đa./ đạt đạo quả vô thượng chánh đẳng chánh giác./

    Vị Thầy cũng chỉ ra những công năng vi diệu của phương pháp quán chiếu 5 uẩn và luận giảng về lời dạy của Đức Quán Âm: ” …Bát nhã ba la mật đa là đại thần chú./ là đại minh chú là vô thượng chú./ là vô đẳng đẳng chú trừ được hết thảy khổ chân thật không hư. Các thần chu gồm: (1) đại ýi thần chú giúp kích hoạt năng lượng tư duy, động lực tư duy, hiệu quả tư duy đáng được ca ngợi, đáng được xưng tụng. (2) đại minh thần chú là sau khi có sự hiểu biết sâu sắc, phá tan vô minh, quán tưởng Bổn tôn bên ngoài…(3) vô thượng chú là ấn quyết, ngồi kiết già và quán tưởng Bổn tôn bên trong. (4) vô đẳng đẳng chú là thần chú cấp cao không gì sánh được, khi đó người tu quán mình là Bổn tôn. Như vậy, từng cấp thần chú khác nhau, khi thực hiện sẽ giúp người tu loại trừ dần khổ đau và thực hiện phương pháp đi từ thần chú vào tánh không đạt thành tựu cần phải được vị Thầy chỉ dạy. Vị Thầy chỉ ra: mọi thần chú đều có công năng như nhau, nên ở Mật Gia Song Nguyễn( nay là Viện ITA) được vị Thầy dạy 4 cấp thần chú nói trên thông qua phương pháp trì niệm thần chú Mani dễ đọc, dễ nhớ, dễ áp dụng phù hợp với đời sống cư sĩ, đồng thời kết hợp các phương pháp và phương tiện khác.

    Ứng dụng thần chú trong sinh hoạt đời thường để khai giác từng phần hay toàn phần, thì ngoài việc trì niệm thần chú: Đối với Đại trí thần chú, vị Thầy dạy chúng con tán thán công hạnh, công đức của chư Phật, Thánh chúng, hoan hỷ tán thán thiện hạnh của người khác và chúng sanh, kể cả ” con cho, con rùa” . Đối với Đại minh thần chú, chúng con được diễn tập tu pháp Chánh Kiến Quang Minh Tam muội để có được phẩm chất người tu( trong Mật Gia Song Nguyễn – MGSN)  là chánh tư duy để phân biệt Chánh – Tà. Đối với Vô thượng chú, với ý nghĩa cao diệu, được vị Thầy chỉ dạy chúng con luôn phát khởi niềm kiêu hãnh linh thiêng khi được là học trò, đệ tử của vị Thầy – vị Đạo sư Mật giáo chân chính. Đặc biệt là thành tựu của MGSN trong thời gian qua là không thể nghĩ bàn; Trong đó, đạo huynh Mật Từ, pháp huynh Mật Hồng Tuyến đã nhận được học bổng toàn phần danh giá du học nước ngoài. Đối với Vô đẳng đẳng chú là ” bất khả tư nghì”, vị Thầy dạy chúng con: ” trong gian khổ, cùng cực các trò luôn ngẩng cao đầu giữ vững niềm tin kiên cố vào Thầy, Phật, Pháp, Tăng…”

    Con tạ ơn Thầy đã ban cho chúng con bài giảng pháp quý báu và lợi lạc.

    Con cầu nguyện cho sức khỏe, trường thọ của Thầy Cô vì lợi lạc cho tất cả chúng sanh.

    Cầu nguyện cho tất cả chúng sanh thành tựu hạnh phúc của Phật tánh.

    Om Ma Ni Pad Me Hum!

  13. Mật Diệu Linh says:

    Kính bạch Thầy.
    Con hoan hỷ khi được nghe bài giảng ” Tâm kinh bát nhã theo quan kiến tánh không ” của Thầy rồi ạ.
    Con hoan hỷ tán thán công hạnh trí tuệ và bồ đề tâm của vị Thầy và con cảm tạ ơn Thầy đã từ bi ban cho chúng con cơ hội quý báu được nghe Thầy bình giảng về thực nghĩa uyên áo thâm sâu của Tâm kinh bát nhã theo quan kiến tánh không.
    Con hoan hỷ tán thán trí tuệ của bậc Đạo sư Du già Thanh trí và trong con dâng lên sự biết ơn hướng tới vị Thầy, bằng những phương pháp sư phạm, cùng những phương tiện thiện xảo Thầy đã luận giải và hạ tầng ngữ nghĩa xuống mức thấp nhất, rễ hiểu nhất để chúng đệ tử học trò với căn cơ khác nhau đều có thể hiểu về tánh không theo từng mức độ hiểu nông, sâu của mình để có thể ứng dụng vào đời sống đoạn trừ dần khổ đau, phiền não, con sẽ nghe lại để có thể thẩm thấu và có thêm được sự nhận thức về lời dạy của Thầy.
    Con cảm tạ ơn Thầy đã đưa ra một mẫu số chung cùng các ví dụ gần gũi để so sánh, đối chiếu và chứng minh, đồng thời Thầy cũng nêu ra hiển giáo hiểu về tánh không như thế nào, cách tiếp cận với tánh không và ở kim cang thừa hành giả tiếp cận với tánh không ra sao. Con cảm tạ ơn Thầy đã từ bi khai thị ạ.
    Con cầu nguyện Thầy, Cô trường thọ trụ thế lâu dài vì lợi lạc của mọi chúng sanh.
    Cầu nguyện cho tất cả chúng sanh thành tựu hạnh phúc Phật tánh.
    Om Mani Padme Hum!

  14. Kính bạch Thầy!

    Con hoan hỷ được nghe bài giảng: “Tâm kinh bát nhã theo quan kiến Tánh không (Rằm tháng 7 âm lịch, Phật lịch 2562 – 2018)” của vị Thầy. Con cảm tạ ơn Thầy đã từ bi luận giảng cho chúng con hiểu được những thực nghĩa uyên áo của Tâm kinh bát nhã. Trước đây con đã đọc nhiều lần về tâm kinh bát nhã trong cuốn hệ trình nhưng không hiểu gì cho mãi tới hôm nay, nhờ Thầy hạ tầng về ngữ nghĩa và đưa ra những ví dụ cụ thể, bài tập thay thế, con đã hiểu hơn về bản kinh này. Con hiểu được ba tính chất của Tánh không là: (1) không tự có, (2) tạo lập bởi duyên khởi trùng trùng và (3) bị tác động bởi vô thường. Và ngũ uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) cũng đều có 3 tính chất đó. Để quán chiếu ngũ uẩn giai không cần có vị Thầy chỉ dạy về trì niệm thần chú. Con cũng hiểu rằng với đại tri thần chú là hoan hỷ tán thán thiện hạnh của người khác theo quỹ đạo chánh pháp. Với đại minh thần chú thì thực hành, diễn tập chánh kiến quang minh tam muội để có chánh tư duy minh định chánh tà. Với vô thượng chú thì chúng con phát khởi niềm kiêu hãnh thiêng liêng khi được là hành giả chân chính, là học trò của vị Thầy Thinley Nguyên Thành. Còn với vô đẳng đẳng chú là bất khả tư nghì, trong gian khổ cùng cực vẫn luôn ngẩng cao đầu giữ vững niềm tin bất diệt vào Thầy, Phật, Pháp, Tăng. Ngoài ra nhờ có Thầy chỉ dạy mà chúng con mới hiểu được bài kinh này và biết được lỗi sai trong bản dịch, qua đó con càng thấm thía lời dạy của ngài Atisha: “Vị Thầy từ bi hơn Đức Phật, lời Thầy quan trọng hơn kinh sách”. Con cảm tạ ơn Thầy đã ban cho chúng con bài pháp quý báu và lợi lạc.

    Con thành tâm cầu nguyện Thầy Cô thân tâm an tịnh, trụ thế lâu dài vì sự lợi lạc của chúng sanh.

    Cầu nguyện tất cả chúng sanh thành tựu hạnh phúc Phật tánh.

    Om Mani Padme Hum.

  15. Kính bạch Thầy,

    Con hoan hỷ được nghe Thầy giảng về “Tâm kinh Bát Nhã theo quan kiến Tánh Không”.

    Con hoan hỷ tán thán công hạnh vị Thầy đã  vì lợi lạc chúng sanh mà hạ tầng ngữ nghĩa. Nhớ đó chúng con với căn cơ chậm lụt vẫn có cơ hội hiểu được  sự uyên áo là Tánh Không trong Tâm kinh Bát Nhã. Nếu không được vị Thầy giảng luận thì bản thân con chỉ đọc tụng như con vẹt  trong rất nhiều năm mà không thể hiểu được thực nghĩa Tánh Không là : 1. Không tự có, 2. Tạo lập bởi duyên khởi trùng trùng, 3. Bị tác động bởi vô thường. Từ đó, khi không còn bám chấp mà giữ được tâm quân bình, thái độ hân hưởng, tránh xa được “điên đảo mộng tưởng  đạt tới cứu cánh niết bàn” khi hiểu rõ bản chất chân thật của sự việc và hiện tượng.

    Để tiến đến “cứu cánh Niết bàn” có hai cách gồm 1. Quán chiếu ngũ uẩn giai không, 2.Lấy kết quả làm con đường. Cách (1) thường phù hợp với đời sống tăng sĩ vì khong bị bó buộc bởi thời gian và không gian. Còn phương pháp thứ (2) phù hợp với nhiều đối tượng, đặt biệt là hàng Cư sĩ vi sự bận rộn thế sự, lâu nhớ mau quên.

    Con hoan hỷ với ơn phước hiện tại trong kiếp người ngắn ngủi này, dù căn cơ chậm lụt, dù bận rộn với thế sự nhưng lại được nương theo trí tuệ và sự từ bi của vị Đạo sư Yoga Thanh Trí. Ngài đã hạ tầng ngữ nghĩa vô cùng uyên áo của Đức Phật, các bậc Thánh Đức để chúng con có thể hiểu, đào sâu tư duy , nghiêm tầm giáo điển qua phương tiện thiện xảo là lâu đài Duy Ma Cật Chanhtuduy.com ở bất cứ nơi đâu cùng những pháp môn khác vô cùng phù hợp với tính thời đại, quốc độ, dân tộc để có thể thong dong bước trên con đường đến thành phố giải thoát. Điều kiện quan trọng là sự sùng kính Đạo sư và được sự đồng ý của vị Thầy trên đường thực hành hay diễn tập Yoga Thanh Trí là “nguyện liệu” để hoạt động.

    Con cám ơn vị Thầy đã luận giảng bài Pháp lợi lạc.

    Con nguyện cầu Thầy Cô mạnh khỏe và an tịnh.

    Nguyện cầu cho sự phát triển của Viện Nghiên cứu và Ứng dụng Yoga Thanh Trí là sự  lan tỏa chánh kiến, mang lại lợi lạc cho thật nhiều chúng sanh khi được tiếp cận và kết nối với vị Thầy.

    Nguyện cầu tất cả chúng sanh thành tựu hạnh phúc Phật tánh.

    Nguyện cầu ánh sánh chánh kiến soi sáng muôn nơi.

    Om Mani Padme Hum.

  16. Kính Bạch Thầy!

    Con rất hoan hỷ được nghe Thầy luận giảng bản văn “Tâm kinh Bát nhã ba la mật đa”, một bản kinh văn uyên ảo về diệu nghĩa, thậm thâm về đề mục thiền quán để quán chiếu tánh không mà Chư Phật ba đời cũng y vào Bát nhã ba la mật đa thực hành sâu xa để đạt quả vô thượng chánh đẳng chánh giác. Nhờ sự từ bi luận giảng của Thầy mà chúng con mới biết được hoàn cảnh mà Ngài Quán tự tại (Avalokiteshvara) đã từ bi lưu xuất bản kinh văn này và thực nghĩa của bản kinh văn là quán chiếu tánh không dựa trên 3 tính chất (không tự có, được tạo lập bởi trùng trùng duyên khởi, bị tác động bởi vô thường). Ngũ uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) đều có 3 tính chất này nên ngũ uẩn đều là không, quán chiếu thấy được như thế để người tu tập dần dần không còn bám chấp, không còn sợ hãi, tâm không ngăn ngại và đạt quả vị tùy vào căn cơ của mỗi người.

    Con rất hoan hỷ trong bản kinh văn này Ngài Quán tự tại từ bi đã dạy thêm một phương pháp khác để đạt được Bát nhã ba la mật đa là đại tri thần chú, đại minh thần chú, vô thượng chú, vô đẳng đẳng chú mà Thầy đã viết trong tác phẩm tâm linh “Một đời người một câu thần chú”.

    Con cầu nguyện cho sức khỏe và sự trường thọ của Thầy Cô vì lợi lạc cho chúng sinh.

    Cầu nguyện cho tất cả chúng sinh thành tựu hạnh phúc của Phật tánh.

    Om Mani Padme Hum!

  17. Kính bạch Thầy!

    Con hoan hỷ nghe bài  bình giảng:” TÂM KINH BÁT NHÃ THEO QUAN KIẾN TÁNH KHÔNG” . Bài bình giảng đã cho con cơ hội được hiểu ý nghĩa ứng dụng của lời kinh huyền ảo Tâm Kinh Bát Nhã và ứng dụng thực tế vào  hoàn cảnh cụ thể. Quả thực khi đọc những lời của bản kinh này, con thường phát khởi tâm lý rằng, chắc còn dài lắm mới đạt đến trạng thái coi mọi thứ là hư không, có hay không đều là vô thường, đôi khi chỉ nghĩ rằng phạm trù Tánh không mà bản kinh nêu ra thật lạ, có hay không đều là như huyễn. Nhưng sau khi nghe bài bình giảng của Thầy, từng lời kinh trong bản Tâm Kinh Bát Nhã không phải chỉ “miêu tả” về một trạng thái như huyễn mà nó cũng gần gũi, dễ tiếp cận và ứng dụng vào thực tế hiện tiền. Hãy coi mọi thứ không như là khuyết điểm để qua đó nhìn nhận sự được, mất, có và không không còn nặng nề. Bởi đó gồm cả một diễn trình nhân quả chạy xuyên suốt, phát khởi, hình thành và tạo tác. Và do đó con hiểu được thực nghĩa Tánh Không là : 1. Không tự có, 2. Tạo lập bởi duyên khởi trùng trùng, 3. Bị tác động bởi vô thường. Nên sẽ không còn bám chấp vào mọi hiện cảnh mà có được cơ hội giữ được an lạc nội tại.

    Không chỉ là cơ hội để hiểu thực nghĩa Tánh không mà bài bình giảng cũng chỉ ra cho chúng con phương pháp thực hành để tránh xa mộng ảo điên đảo, đạt tới cứu cánh Niết bàn thông qua việc thực hành chánh kiến quang minh tam muôn, đọc bài và viết comment trên chanhtuduy.com, thực hành thần chú sáu âm. Nhờ đó mà giữ được tâm quân bình trước mọi nghịch cảnh, mọi thứ đều vô tánh, vô tướng và vô thường nên biết xả ly những gì đáng phải xả ly thì mới mong vượt qua được “điên đảo”.

    Con cảm tạ ơn Thầy, con thành tâm cầu nguyện Thầy Cô mạnh khỏe, trường thọ, trụ thế dài lâu vì sự lợi lạc của tất cả chúng sanh.

    Cầu nguyện cho con luôn tỉnh thức , chánh niệm và chú tâm để vượt qua được khó khăn vì mình và tha nhân.

    Cầu nguyện tất cả chúng sanh thẫm đẫm hồng ân Tam Bảo.

    Om Mani Padme Hum!

  18. Kính bạch Thầy,

    Con cảm tạ Thầy đã từ bi giảng luận cho chúng con một bài giảng lợi lạc, tựa như những dòng tinh tuý được chắt lọc sau hàng chục năm nghiên tầm giáo điển, ứng dụng giáo pháp theo quy trình biện chứng khoa học tâm linh của Thầy. Chúng con thật ơn phước hy hữu khi được nghe bài pháp này. Con hoan hỷ tán thán trí huệ và bồ đề tâm của Thầy. Con thật sự ngỡ ngàng khi với một khía cạnh khó cho chúng con có thể mường tượng chưa nói đến việc hiểu như “tánh không”, nay đã được Thầy giảng luận dựa trên một nguyên lý tuyệt đối, bao gồm yếu tính của tánh không là: không tự có, phải tạo lập bởi duyên khởi và vô thường để nhận thấy những sự tương đồng. Nhờ đó chúng con có thể phần nào hiểu được ý nghĩa lời kinh ẩn mật trong “Tâm kinh bát nhã”. Tựa như một con tàu vượt sóng ra khơi, muốn đi đến đích cần phải có ánh sáng hải đăng dẫn đường; những bài giảng, bài viết của Thầy luôn dựa trên những nguyên lý, giáo lý nhà Phật bởi vậy luôn cho chúng con một sự hiểu nhất quán. Cũng vậy, nếu đề tài “Tánh không” này từng được giảng rất nhiều một cách mơ hồ, rối rắm, người giảng không đi vào yếu nghĩa mà chỉ nhằm nhấn mạnh sự cao siêu, khó hiểu của lời kinh (mà có thể họ cũng không hiểu) thì chúng con lại được nghe Thầy giảng về đề tài này với sự liên tưởng mối tương đồng giữa nguyên lý tuyệt đối và nguyên lý tương đối, mà nguyên lý tương đối là những gì chúng con được cảm nhận nên có thể phần nào dễ dàng hơn trong bước suy luận để hiểu ra vấn đề. Song hiểu được lời kinh để nhận thấy cần xả ly sự chấp thủ, xả bỏ luyến ái, nhờ vậy đạt được tâm thái tự tại, không sợ hãi thì cần có sự quán xét tinh tấn, luôn luôn xem đây là đề mục thiền quán. Để làm được như vậy là một sự nỗ lực về ý chí của hành giả. Đối với học trò, đệ tử Mật gia Song Nguyễn, chúng con được trợ lực một cách tự nhiên bằng cách sử dụng thần chú theo các cấp độ tương ứng với lời kinh bằng tu pháp của Thầy đã phát kiến. Như vậy, vừa được quán xét theo đề mục với những bài giảng, bài viết của Thầy làm kim chỉ nam, lại vừa được thực hành các pháp nên chúng con dần tự động thực hiện được mục đích của Tâm kinh bát nhã là quán chiếu xả ly. Có thể thấy nhiều đạo hữu tại Mật gia không cần tự ép mình trong những lần tập trung thiền quán, vận dụng tư duy quá nhiều trong khi tập quán này không thực sự phù hợp với họ, song khi tinh tấn thực hành pháp Thầy đã truyền trao thì vẫn thực hiện tốt việc thực hành xả ly và đạt được những thành quả trong thế sự và pháp sự. Đây là sự khác biệt quá lớn và là thành tựu mà rất nhiều tăng sĩ tự viện phải nếm mật nằm gai, trăn trở cả đời cũng không thực hiện được. Con cảm nhận sâu sắc rằng khi đã đi theo con đường chánh kiến mà Thầy đã chỉ ra, mặc dù căn cơ hữu hạn của chúng con chưa hiểu được những ý nghĩa diệu thâm của lời kinh song chúng con vẫn đang được thực hành đúng theo những nguyên lý ấy và vẫn đang tiến gần hơn đến cánh cửa giải thoát trong tương lai. Con nhớ đến lời thánh tăng Mã Minh đã dạy trong “50 kệ tụng sùng kính Đạo sư” rằng:

    “Vị Thầy xứng đáng không dễ thấy,

    Phải gồm đầy đủ những điều sau:

    Giới đức, trí tuệ, đa văn, nhiều phương tiện,

    Dạy trò, lớn nhỏ mọi căn cơ,

    Miễn sao thông hiểu nhiều Mật điển,

    Kiên nhẫn dạy trò không quản ngại thân sơ!”

    Con thật vô cùng ơn phước khi được một vị Thầy chỉ đường, con thành tâm cảm tạ ơn Thầy. Con cầu nguyện cho sức khoẻ và sự trường thọ của Thầy và Cô vì lợi lạc cho tất cả chúng sanh. Cầu nguyện thật nhiều chúng sanh có duyên lành được hạnh ngộ vị Thầy và giáo pháp của Ngài trong đời này.

    Cầu nguyện tất cả chúng sanh luôn tỉnh thức trong trạng thái giác ngộ.

    Om Mani Padme Hum.

  19. Kính bạch Thầy,

    Con vô cùng hoan hỉ được nghe bài giảng “Tâm kinh bát nhã theo quan kiến tánh không”.

    Mặc dù con có từng đọc tụng Tâm kinh bát nhã nhiều lần nhưng không hiểu rõ thực nghĩa. Nay qua những lời dạy của Thầy con đã hiểu thêm về nguồn gốc, hoàn cảnh ra đời cũng như hiểu thêm về ý nghĩa diệu thâm của bản kinh này theo quan kiến tánh không.

    Nhiều thuật ngữ trong bản kinh như “ngũ uẩn”, “sắc thọ tưởng hành thức”, “nhãn giới”, “ý thức giới” được Thầy giải thích rất rõ ràng, dễ hiểu. Đặc biệt là nói tới “tánh không” hẳn nhiều người, thậm chí là các hành giả đạo Phật lâu năm vẫn còn bối rối không thể giải thích thấu đáo thì nay nhờ luận giải của Thầy mà con hiểu rằng tánh không chính là gồm 3 tính chất sau: (1) Không tự có; (2) được tạo thành do duyên khởi; (3) không tồn tại thường hằng, bị tác động bởi vô thường.

    Như vậy khi đưa “sắc, thọ, tưởng, thành, thức” vào đối chiếu thì thấy rằng cả 5 điều này đều có 1 mẫu số chung là 3 tính chất như trên của tánh không, do vậy “sắc tức là không, không tức là sắc, thọ tưởng hành thức cũng đều như thế”

    Hiểu được lời dạy của Ngài Quán Tự Tại Bồ tát về vô tự tánh của vạn pháp giúp cho hành giả có được tinh thần xả ly (xả ly sự chấp thủ), không sợ hãi, tâm lý nhẹ nhõm, nhờ đó mà đối diện và vượt qua được những khó khăn trong cuộc sống trên bình diện tâm và thân với tinh thần “Đừng coi mọi sự như là khuyết điểm”.

    Đồng thời qua bài giản này, con hiểu thêm về một tu pháp ngang hàng với quán chiếu ngũ uẩn giai không chính là thần chú, gồm: đại tri thần chú, đại minh thần chú, vô thượng chú và vô đẳng đẳng chú. Cách thức ứng dụng thần chú để khai giác: rèn luyện tính hoan hỉ, tán thán chánh hạnh của chúng sanh, quán xét tư cách bản thân bên ngoài và bên trong, khởi phát niềm kiêu hãnh linh thánh. Đặc biệt Thầy dạy chúng con về trí huệ phương tiện, thuận theo thế gian nhưng vẫn giữ được bản chất của hành giả Phật giáo.

    Con hoan hỉ cảm tạ ơn Thầy đã giảng cho chúng con nghe một bài pháp vô cùng lợi lạc. Qua đây con càng thấm thía ý nghĩa của lời dạy “vị Thầy từ bi hơn Đức Phật, lời Thầy quan trọng hơn kinh sách”. Nếu không có Thầy chỉ dạy, chúng con có văn, tư không biết bao lâu để hiểu được diệu nghĩa thậm thâm trong lời dạy của Đức Phật và Thánh chúng, chưa nói tới ứng dụng thực hành để lợi mình lợi người.

    Con thành tâm cầu nguyện cho sức khoẻ và sự trường thọ của Thầy, Cô vì lợi lạc chúng sanh.

    Cầu nguyện cho tất cả chúng sanh thành tựu hạnh phúc Phật tánh.

    Om ah hum.

  20. Mật Thủy says:

    Kính bạch Thầy!

    Con hoan hỷ cảm tạ ơn Thầy đã cho chúng con một bài pháp “hiếm có, khó gặp”: “Tâm kinh bát nhã theo quan kiến tánh không”. Với căn cơ chậm lụt, con sẽ không dễ dàng gì được tiếp cận với tánh không, với trí huệ bát nhã, đặc biệt là được khai mở những tầng ý nghĩa diệu thâm của “Tâm kinh bát nhã” bằng phương pháp sư phạm của vị Thầy hướng đến đối tượng sư phạm. Vậy nên đây là một ơn phước lớn đối với chúng con!

    Với 3 kết quả từ việc đọc tụng kinh điển: 1/ Đọc kinh không hiểu ý nghĩa thì được phước đức (là kết quả trước đây với con khi đọc tụng “Tâm kinh bát nhã”); 2/ Hiểu những gì kinh văn đề cập thì được công đức; và 3/ Hiểu cả những gì kinh văn không đề cập thì được tuệ tri giải thoát; giờ đây sau khi được Thầy giảng những tầng lớp ý nghĩa của “Tâm kinh bát nhã”, chúng con đã có được cả 3 kết quả trên trong thời gian ngắn nhất, “thừa hưởng” thành quả của bao nhiêu năm từ vị Thầy! Con thành tâm tán thán trí huệ và lòng từ bi của Thầy đối với chúng con!

    Kính bạch Thầy! Con đặc biệt hoan hỷ với bài giảng của Thầy ở phần thực hành ứng dụng. Với “Tâm kinh bát nhã” nói riêng và kinh văn nói chung, ý nghĩa diệu thâm nhưng nếu chỉ tán thán thôi thì chưa đủ. Để hiểu được đã khó, làm sao để thực hành, ứng dụng lại càng khó hơn! Nhưng Thầy đã đúc kết việc thực hành ứng dụng “Tâm kinh Bát nhã”, vốn đã được dạy và học bao năm nay tại Viện nghiên cứu tâm lý học và ứng dụng Yoga Thanh trí:

    Về thực hành: đó là thực hành thần chú Mani với các cấp độ: 1/ Đại tri thần chú (niệm thần chú kèm ấn quyết); 2/ Đại minh thần chú (niệm thần chú kèm ấn quyết và quán tưởng Bổn tôn bên ngoài); 3/ Vô thượng chú (niệm thần chú kèm ấn quyết và quán tưởng Bổn tôn bên trong); 4/ Vô đẳng đẳng chú (niệm thần chú kèm ấn quyết và quán tưởng mình là Bổn tôn).

    Trên phương diện ứng dụng: đó là hoan hỷ với thiện hạnh của chúng sanh (cấp độ Đại tri thần chú); rèn luyện chánh kiến quang minh tam muội để ứng dụng chánh tư duy vào cuộc sống (cấp độ Đại minh thần chú); khởi phát niềm kiêu hãnh thiêng liêng (cấp độ Vô thượng chú); trong gian khó cùng cực vẫn giữ vững niềm tin không xoay chuyển (cấp độ Vô đẳng đẳng chú). Tựu chung là dùng trí huệ phương tiện trên nền tảng Bồ đề tâm làm kim chỉ nam để làm lợi cho mình, lợi cho người.

    Cuối cùng, đọng lại trong con một cách cô đọng, dễ hiểu nhất rằng, Tâm kinh bát nhã chỉ một điều duy nhất là Tánh không gồm 3 tính chất: 1) Không tự có; 2) Do duyên khởi mà thành; 3) bị tác động bởi vô thường. Nhờ hiểu được như vậy, chúng con bình tâm trước mọi diễn biến của thế gian, dù đó là niềm vui hay nỗi buồn.

    Con cảm tạ ơn Thầy về bài pháp đã cho chúng con niềm hoan hỷ, niềm kiêu hãnh thiêng liêng, chánh kiến về “Tánh không” vốn bị đẩy lên cao với quan điểm, xuống thấp với hành vi bấy lâu nay bởi rất rất nhiều các vị tăng ni ở tự viện và cả những người tự ngã khoe kiến thức rỗng tuếch. Và từ đó giúp chúng con bình tâm trước thế sự, kiên cố niềm tin không xoay chuyển trên con đường đi đến thành phố Giải thoát.

    Con cầu nguyện cho sức khỏe và sự trường thọ của Thầy và Cô vì lợi lạc của chúng sanh!

    Om mani padme hum!

  21. Mật Tấn Khải says:

    Kính bạch Thầy!
    Con hoan hỷ khi nghe được nghe bài giảng “Tâm Kinh Bát Nhã Theo Quan Kiến Tánh Không” của Thầy. Con cảm tạ ơn Thầy đã từ bi ban cho chúng con cơ hội quý báu được nghe vị Thầy luận giảng về ý nghĩa diệu thâm của bản Tâm Kinh Bát Nhã theo quan kiến Tánh Không giúp con chúng dễ dàng tiếp cận và hiểu thực nghĩa và đặc điểm của tánh không, đó là tất cả những cấc sự vật, hiện tượng và con người đều nằm trong ba tính chất 1- không tự có, 2- phải tạo lập bởi duyên khởi trùng trùng, 3- bị tác động bởi vô thường. Ngũ uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành , thức) nó không tự có mà được tạo lập bởi trùng duyên khởi và tác động của vô thường. Chúng con thật may mắn trong kiếp người quý báu này được hạnh ngộ vị Thầy tâm linh từ bi, trí huệ với lòng Bồ đề tâm rộng lớn luôn vì sự lợi lạc của tất cả học trò, chỉ dạy học trò với nhiều phương tiện thiện sảo ứng dụng “pháp vào cuộc sống” cũng như sự lợi lạc không thể nghĩ bàn của việc diễn tập thực hành bộ môn Yoga thanh trí thông qua lục diệu pháp môn là tâm lực, trí lực, nguyện lực của vị Thầy. với lục diệu pháp môn dễ dàng diễn tập, thực hành và ứng dụng trong cuộc sống hằng ngày để lợi mình lợi người. Nhờ đó hiểu được bản chất chân thật của sự vật, hiện tượng quán xét biết tâm ta đang ở trạng thái nào mà giữ tâm quân bình trong bất kì hoàn cảnh nào.
    Con cảm tạ ơn Thầy đã từ bi ban cho chúng con bài pháp quý báu và lợi lạc.
    Con thành tâm cầu nguyện cho sức khỏe và sự trường thọ của Thầy, Cô vì lợi lạc tất cả chúng sanh.
    Cầu nguyện tất cả chúng sanh được uống tinh túy Cam Lồ.
    Om Mani Padme Hum!

  22. Kính Bạch Thầy con đã nghe bài giảng của Thầy.

    Con thành tâm cảm tạ Thầy đã từ bi giảng luận bài pháp quý này. Thật là ơn phước cho chúng con khi được Thầy giới thiệu về hoàn cảnh xuất hiện, giải thích cho hiểu ý nghĩa của những thuật ngữ vốn rất cao siêu được dùng trong bản kinh, từ đó từng bước tiếp cận với thực nghĩa về tánh không của bản kinh uyên áo diệu nghĩa và thậm thâm đề mục thiền quán, “Tâm kinh bát nhã”.

    Từ những mâu thuẫn về nguyên lý nội tại ở bản dịch tiếng Việt mà Thầy đã chỉ rõ ra và minh định lại cách hiểu đúng, con càng thêm thấy được vai trò quan trọng của tư duy, và thêm cảm niệm sự may mắn của bản thân con cũng như các huynh đệ, khi được nương theo trí tuệ của vị Thầy mà bứt phá khỏi sự lệ thuộc vào những bản dịch, được trang bị Chánh tư duy để đi vào thực nghĩa. Con đặc biệt hoan hỷ khi qua bài giảng con đã hiểu được ý nghĩa của câu nói “kinh điển” mà nhiều người cứ mỗi lần muốn tỏ ra mình “cao siêu, trí tuệ” là lại trầm bổng ê a, đó là “sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc”. Quả thật con cảm thấy rất khó hiểu, vì nếu như nói rằng sắc là cái có thật và không là cái không có, thì tại sao có và không là hai khái niệm đối nghịch mà lại “chẳng khác nhau”, cũng giống như những ví dụ minh họa thường được dẫn ra, đó là sống-chết, thiện-ác, đây rành rành là trái ngược nhau mà sao lại bảo rằng “chẳng khác nhau”? Nay qua luận giảng của Thầy thì vấn đề được giải thích một cách logic và dễ hiểu. Con liên tưởng đến một quy tắc toán học được học từ lớp nhỏ, rằng để so sánh hai phân số khác nhau, thì điều đầu tiên cần làm đó là quy đồng mẫu số, khi có được một mẫu số chung rồi thì mới có cơ sở để so sánh và cho ra kết quả đúng. Và ở đây Thầy đã chỉ ra mẫu số chung của những cặp phạm trù tương đồng (chứ không phải đối nghịch) nhau, giữa sắc-không, thọ-không, v.v… đó là tánh không với ba tính chất (1) không tự có (2) do trùng trùng duyên khởi và (3) chịu tác động của vô thường. Tới đây thì bài toán vốn “khó nhằn” này đã trở nên dễ giải, “không” đã có đầy đủ 3 tính chất vừa kể, và sau khi chứng minh “sắc”, “thọ”,… cũng có đầy đủ 3 tính chất này thì kết luận là sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc, cũng là thọ chẳng khác không, không chẳng khác thọ, và tương tự cho những uẩn khác. Thật là hay quá, một vấn đề cao siêu, trừu tượng đã trở nên đơn giản, rõ ràng, và hoàn toàn có thể hiểu được! Con tâm đắc với câu nói của nhà khoa học Einstein mà huynh Mật Huệ Pháp trích ra, “Nếu bạn không thể giải thích đơn giản tức là bạn chưa đủ hiểu rõ”, và con không khỏi nghĩ rằng những vị nào, dù là cao tăng, khi giảng về tánh không mà lại “càng giảng càng thêm gây hoảng” thì chính là vị đó chưa thật sự thấu đáo, vì bản thân chưa hiểu rõ nên không thể giúp cho người hiểu được.

    Chúng con, nhờ có Thầy, với sự am tường chân lý tuyệt đối và phương pháp truyền thụ của nhà sư phạm lão luyện, mà được hiểu, và còn lợi lạc hơn nữa khi còn được Thầy chỉ cho thấy hiểu để làm gì_ hiểu để liên hệ và ứng dụng vào thực tế đời sống của người hành giả. Thấy được “năm uẩn đều không” để xả bỏ được chấp thủ, có cái nhìn chừng mực về đối tượng của sắc, thọ, tưởng, hành, thức nhằm cảm nhận được tinh thần tự tại, không còn sợ hãi, đây thực sự vô cùng hữu ích cho mỗi người tu trên đường đời đầy rẫy chông gai này.

    Và là những hành giả Yoga Thanh trí, những cư sĩ tại gia chúng con được Thầy hướng dẫn, truyền dạy phù hợp phương pháp thực hành tinh túy_ Thần chú, là đại tri thần chú (niệm thần chú với ấn quyết), đại minh thần chú (niệm thần chú cùng với quán tưởng Bổn tôn bên ngoài), vô thượng chú (có ấn quyết, ngồi kiết già và quán tưởng Bổn tôn bên trong), vô đẳng đẳng chú (quán tưởng mình là Bổn Tôn). Cùng với đó là lộ trình ứng dụng bài bản và rõ ràng, trong đó tương ứng với (1) đại tri thần chú là sự rèn luyện tính hoan hỷ với thiện hạnh của tất cả chúng sanh (theo đúng quỹ đạo chánh pháp), với (2) đại minh thần chú là thực hành Chánh kiến quang minh tam muội đi cùng với rèn luyện đạo phong của người hành giả, với (3) vô thượng chú là khởi phát niềm kiêu hãnh thiêng liêng khi có được thân phận của người con Phật, người hành giả Mật giáo theo bước một vị Đạo sư, với (4) vô đẳng đẳng chú là bất khả tư nghì khi trong gian khổ cùng cực vẫn ngẩng cao đầu, giữ được niềm tin bất diệt, tựa “như con tàu giữa biển mênh mông, còn xa đất vẫn tin ngày cập bến”. Và một phương tiện diệu dụng để đạt được cả bốn mục tiêu trên đó là Trí huệ phương tiện được ứng dụng mềm dẻo, linh hoạt tùy theo hoàn cảnh, nhằm độ cho người, lợi cho mình.

    Con lần nữa cảm tạ ơn Thầy đã bình giảng “Tâm kinh bát nhã”, con ghi nhớ rằng điều duy nhất bản kinh này nói đó là Tánh Không, mang tính chất “không tự có”, “do trùng trùng duyên khởi” và “chịu tác động của vô thường”, và hiểu được điều này để bình tâm trước mọi diễn biến của thế gian, dù là niềm vui hay nỗi buồn.

    Con cầu nguyện cho sức khỏe và sự trường thọ của Thầy và Cô vì lợi lạc tất cả chúng sanh.

    Cầu nguyện tất cả chúng sanh đều thành tựu hạnh phúc Phật tánh.

    Om Mani Padme Hum.

  23. Mật Hồng Thức says:

    Kính Bạch Thầy,

    Con hoan hỷ khi nghe bài giảng của Thầy về” Tâm Kinh Bát Nhã Theo Quan Kiến Tánh Không ”

    Con cảm tạ Thầy từ bi luận giảng cho chúng con bài pháp lợi lạc.

    Con cầu nguyện sức khỏe và trường thọ của Thầy Cô vì lợi lạc chúng sanh.

    Cầu nguyện tất cả chúng sanh thành tựu hạnh phúc của Phật tánh.

    Om Mani Padme Hum.

     

  24. Mô Phật!

    Kính Bạch Thầy, con đã nghe lại bài giảng này. Con cảm tạ vị Thầy đã ban cho chúng con một bài pháp quý giá về Trí Tuệ Tánh Không theo Tâm kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa. Bằng trí tuệ và phương pháp sư phạm, vị Thầy đã bóc tách từng lớp nghĩa uyên áo và đưa đến tính ứng dụng cho chúng con trong đời sống hằng ngày.

    Bạch Thầy, Tánh Không là một phạm trù mà rất nhiều người khi bàn đến nó đều đi đến tình trạng “Lên cao với quan điểm”. Thậm chí là lên tới trăng tới sao khiến người nghe như lạc vào mê hồn trận biết khi nào mới xuống lại mặt đất. Có một dạng bệnh là “Thiền bệnh” khi người ta nghiện làm thơ kiểu sắc sắc không không, ngữ nghĩa rối mù để “làm màu” rằng mình ngộ đạo. Lại có người chấp đến mức bác bỏ hết Nhân Quả, bác bỏ Thiện-Ác, bác bỏ cả Phật-Pháp-Tăng, cho rằng tất cả đều là Không hết. Con hiểu rằng tất cả những hành vi ấy chỉ là sự phóng tưởng khi người ta trôi lăn theo lý thuyết suông, không đến từ sự ứng dụng thực hành chân chính. Vì vậy có giới luật rằng “Không giảng Tánh Không cho người không tu tập.” Con  hiểu chiều ngược lại rằng, cần có sự tu tập nghiêm túc, đặc biệt là cần có phương pháp thích hợp, đúng quỹ đạo thì người ta mới có thể thẩm thấu phạm trù này, không phải chỉ đọc vài cuốn sách, nghe vài bài giảng mà cho là mình đã liễu ngộ Tánh Không. Đây là sự chủ quan khinh suất làm tăng trưởng Tăng Thượng Mạn.

    Ở Mật Gia Song Nguyễn, vị Thầy Mật Giáo chỉ dẫn chúng con “lên cao với hành vi, xuống thấp với quan điểm”. Chúng con may mắn được vị Thầy giảng giải vấn đề thông sự quán xét những sự vật hiện tượng thực tế rất gần gũi. Đầu tiên con hiểu được rằng, Tánh Không có 3 tính chất:

    (1)Không tự có

    (2) Tạo lập bởi duyên khởi trùng trùng

    (3)Bị tác động bởi vô thường.

    Khi áp dụng 3 “công thức” này vào Sắc (thể chất vật lý và cơ chế sinh học) thì quả thật đúng như vậy. Cơ thể này cũng không tự có, tạo bởi duyên khởi trùng trùng và cuối cùng cũng hoại diệt theo vô thường. Bằng cách như thế, chúng con có thể áp dụng công thức ấy vào Thọ, Tưởng, Hành, Thức để giải bài toán “Chân Không Diệu Hữu”. Con hiểu rằng cách giải hai phạm trù ấy thành dạng đối nghịch của nhau là cách giải sai lầm, mà khi giải đúng thì phải ra chúng là hai phạm trù tương đồng của nhau. Con hiểu rằng đến cùng tột của Chân Không thì lưu xuất ra tất cả cái Có (Diệu Hữu). Nhờ bài giảng của vị Thầy, con không gặp phải cảnh đau đầu khi phân biệt đâu là có đâu là không mà có nguy cơ  rơi vào Tà Kiến điên đảo

    Con hiểu rằng người tu theo Hiển Giáo quán chiếu “Ngũ Uẩn Giai Không”, còn Mật Giáo có phương tiện khác nữa để hành giả tiếp cận với Tánh Không. Đó là thông qua thần chú như trong Tâm Kinh có nói rằng “Bát Nhã Ba La Mật Đa là đại tri thần chú, đại minh thần chú, vô thượng chú, vô đẳng đẳng chú.” Ở Mật Gia Song Nguyễn, vị Thầy dạy chúng con thần chú Mani cũng được lưu xuất từ Đức Quán Thế Âm nên hành giả có thể nhận được lợi ích tương đường. Qua bài giảng, con hiểu về cách ứng dụng các cấp bậc của thần chú như sau: Đại tri thần chú là hoan hỷ tán thán thiện hạnh của người khác theo quỹ đạo Chánh Pháp. Đại  minh thần chú là diễn tập Chánh kiến Quang Minh Tam Muội để có Chánh Tư Duy minh định Chánh Tà. Vô thượng chú là sự khởi phát niềm kiêu hãnh thiêng liêng khi là hành giả Mật Giáo, là học trò của Đạo Sư Thinley Nguyên Thành. Cuối cùng là Vô đẳng đẳng chú, là bất khả tư nghì, là niêm tin không bất diệt vào Thầy, Phật, Pháp, Tăng.

    Bạch Thầy, giống như một người giáo viên giỏi biết cách hướng dẫn học trò chẳng những tìm được đúng công thức để giải bài toán mà còn có thể đem công thức ấy áp dụng cho các bài toàn khác, các lĩnh vực khác. Vị Thầy Mật Giáo đã đem giáo lý Tánh Không hạ tầng ngữ nghĩa cho chúng con có thể dễ dàng tiếp nhận cũng như có sự ứng dụng đúng đắn trên đạo trình tâm linh của mình một cách cụ thể.  Bài giảng lại càng khiến con tự hào hơn khi nghĩ về những pháp Yoga Thanh Trí mà vị Thầy đã dày công chưng cất, mới nghe thì có vẻ đơn giản, nhưng càng đi sâu vào thì càng mở ra biết bao điều diệu dụng, biết bao tinh hoa Phật Pháp ẩn chứa trong những tu pháp ấy. Con hoan hỷ lời ngài Atisha rằng “Vị Thầy từ bi hơn Đức Phật, lời Thầy quan trọng hơn kinh sách.”

    Bài giảng cũng giúp con hiểu được không phải cái gì gọi là “kinh” thì cũng vội vàng tin theo. Vị Thầy đã phát hiện ra sự lệch thực nghĩa vấn đề khi ngài “Quán Tự Tại” thì không cần phải “vượt qua hết thảy khổ ách” hay “thực hành sâu xa”. Nếu không có trí tuệ bậc Đạo Sư chỉ ra thì chúng con khó lòng nhận ra được. Con cũng đã từng thấy có người là thượng tọa mà dịch Tâm Kinh theo kiểu dị hợm như “Nên xem Bát-nhã ba-la-mật là: Lời thần chú sâu xa bậc nhứt, Lời chú thần rất mực quang minh, Chú thần cao cả anh linh, Là lời thần chú thật tình cao siêu.” Quả thực đọc bài trên chanhtuduy.com vẫn là tốt nhất với chúng con thay vì đọc chỗ này chỗ kia mà gặp phải những lối dịch tù mù lệch quỹ đạo thế này.

    Con thành tâm cầu nguyện cho sức khỏe Thầy Cô trường thọ vì lợi lạc và hạnh phúc chúng sanh.

    Nguyện cho chúng sanh thành tựu hạnh phúc Phật Tánh.

    Om Ah Hum.

     

  25. Mật Nhã Nguyệt says:

    Kính Bạch Thầy,

    Con đã nghe bài giảng ” Tâm Kinh Bát Nhã theo quan kiến Tánh không “. Con cảm tạ ơn Thầy đã ban cho chúng con bài giảng Pháp vô cùng quý báu.

    Con cầu nguyện sức khỏe của Thầy vì lợi lạc chúng sanh.

    Cầu nguyện cho tất cả chúng sanh đều thành tựu hạnh phúc Phật Tánh.

    Om mani padme hum.

  26. Mật Thanh Trúc says:

    Kính bạch Thầy,

    Dạ con đã được nghe bài Thầy giảng rồi ạ! Con thầy hoan hỉ vô cùng có phước duyên được vị Thầy chi phép vào đọc và nghe những bài pháp. Cả đời con cầu nguyện được nghe và hiểu nghĩa lý của kinh điển giáo pháp Phật Đà và được thấm đẫm hồng ân Tam Bảo.

    Con là học trò mới, chỉ mới đọc, hiểu và comment một số bài, chưa qua trường lớp tu tập nào mà đã nghe bài giảng về Tâm Kinh Bát Nhã và như lời Thầy đã nói rằng những người chưa tu tập không được giảng về Tánh Không! Nhưng con đã nghe mất rồi, dù với lòng thành tâm muốn hiểu nhưng như vậy có phạm tội không ạ?

    Con xin cảm tạ vị Thầy đã vì chúng sanh mà luận giải quan kiến Tánh Không. Con cầu nguyện cho sức khỏe và sự trường thọ của Thầy và Cô vì sự lợi lạc cho tất cả chúng sanh.

    Nguyện cho tất cả chúng sanh thành tựu hạnh phúc của Phật tánh.

    Om Mani Padme Hum.

  27. Mật Hồng Nhật says:

    Kính bạch Thầy!

    Con hoan hỷ được nghe bài giảng của Thầy!

    Con cảm tạ ơn Thầy đã từ bi giảng pháp.

    Con cầu nguyện cho sức khỏe và sự trường thọ của Thầy, Cô vì lợi lạc chúng sinh.

    Cầu nguyện chúng sinh thành tựu hạnh phúc Phật tánh.

    Om Mani Padme Hum!

  28. Mật Cường says:

    Kính bạch Thầy.

    Con thật hoan hỷ được nghe bài giảng thật quý báu của Thầy:” Tâm Kinh Bát Nhã theo quan kiến tánh không”.

    Tâm Kinh Bát Nhã là một bản kinh uyên áo ý nghĩa diệu thâm,bằng phương pháp sư phạm của vị Thầy từ bi đã giảng rõ những thuật ngữ trong bản kinh và đưa ra nhiều ví dụ áp dụng. Nhờ đó chúng con hiểu rõ ba tính chất của tánh không( không tự có, được tạo thành bỡi nhiều duyên khởi,bị sự tác động của vô thường)cùng với ngũ uẩn( sắc, thọ, tưởng, hành, thức) có chung một mẫu số.Đặc biệt Thầy chỉ dạy những tu pháp ứng dụng, thực hành để đạt được: Đại tri thần chú, Đại minh thần chú,Vô thượng chú và Vô đẳng đẳng chú.

    Con cảm tạ ơn Thầy từ bi giảng cho chúng con nghe một bài pháp nhiều lợi lạc.

    Con cầu nguyện Thầy và Cô thân tâm an tịnh trụ thế dài lâu vì lợi lạc tất cả chúng sanh.

    Nguyện cho tất cả chúng sanh thành tựu hạnh phúc Phật tánh.

    Om Mani Padme Hum.

  29. Mật Nhất Nguyên (Lê Duy Trí) says:

    Kính bạch Thầy,

    Con hoan hỉ được lắng nghe bài giảng của vị Thầy, “Tâm kinh Bát nhã theo quan kiến Tánh không”. Con cảm tạ vị Thầy đã ban cho chúng con món quà đạo pháp trân quý và lợi lạc này.

    Qua bài giảng con được biết đến duyên khởi, thực nghĩa, thực hành và ứng dụng của Tâm kinh Bát nhã theo quan kiến tánh Không.

    Về duyên khởi con biết được sự kiện Tôn giả Xá Lợi Phất được Đức Phật thuyết giảng về đề mục quán chiếu của ngài Quán tự tại Bồ tát là “5 uẩn đều không”. Về thực nghĩa, con hiểu được sở dĩ 5 uẩn đều Không là vì 3 mẫu số chung (1) Không tự có (Không có tự tánh), (2) Phải tạo lập bởi duyên khởi trùng trùng (Không độc lập), (3) Bị tác động bởi vô thường. Khi quán xét được như vậy và thấy rằng các phạm trù tiếp sau đó (mắt – tai mũi –  lưỡi –  thân – ý; sắc – thanh –  hương – vị – xúc – pháp…) cũng đều là Không, sẽ đạt tâm “không ngăn ngại”, “không sợ hãi”, “xa hẳn mộng tưởng điên đảo, đạt tới cứu cánh Niết bàn.”

    Về thực hành và ứng dụng, con hoan hỉ được biết rằng thực hành trì niệm thần chú Mani – hiện thân của mọi thần chú, có công năng vi diệu tương tự như thần chú trong kinh Bát nhã; không cần nương theo Tứ Diệu Đế hay đề mục Ngũ uẩn giai không, thần chú Mani khi được hành trì miên mật và nương vào Phật tánh bên trong sẽ dẫn đến trí huệ Tánh không. Các cấp độ hành trì thần chú Mani là (1) Đại tri thần chú (2) Đại minh thần chú (3)  Vô thượng chú (4) Vô đẳng đẳng chú đều có ứng dụng của Tánh không tương ứng là (1) hoan hỉ với thiện hạnh của chúng sanh, (2) ứng dụng chánh tư duy trên nền tảng chánh kiến, (3) khởi phát niềm kiêu hãnh thiêng liêng, (4) trong gian khổ cùng cực vẫn bình thản không nao núng (tinh thần vô úy).

    Qua bài giảng thấy mình thật may mắn khi được thực hành phương tiện tiếp cận trí huệ tánh Không đơn giản mà hiệu quả không thể nghĩ bàn là trì niệm thần chú Mani dưới sự chỉ dạy của vị Thầy tôn quý. Con xin tán thán phương pháp vi diệu và đầy lợi lạc này bằng lời kệ của đại thành tựu giả Patrul Rinpoche:

    Một Bổn tôn, Quán Thế Âm, hiện thân của tất cả chư Phật;
    Một thần chú, sáu chữ, hiện thân của mọi thần chú;
    Một Pháp, Bồ đề tâm, hiện thân của cả thảy thực hành trong giai đoạn phát triển và thành tựu.
    Biết cái một, điều đó giải thoát cho tất cả, hãy trì tụng thần chú sáu âm.

    Con thành tâm hoan hỉ và cảm tạ ơn Thầy đã ban cho chúng con bài pháp đầy lợi lạc này. Con hoan hỉ vì những gì học được hôm nay. Con thành tâm cầu nguyện cho sức khỏe và sự trường thọ của Thầy và Cô vì sự lợi lạc cho tất cả chúng sanh. Nguyện cho ngọn đuốc trí tuệ được thắp sáng muôn nơi. Nguyện cho tất cả chúng sanh thành tựu hạnh phúc của Phật tánh.

    Om Mani Padme Hum.

    • Nguyên Thành
      Nguyên Thành says:

      Hay!

      • Mật Nhất Nguyên (Lê Duy Trí) says:

        Kính bạch Thầy,

        Con xin cạm tạ vị Thầy đã từ bi sách tấn cho con. Con hoan hỉ vì hôm nay có cơ hội được nghe lại bài giảng này. Con xin tán thán công năng vi diệu của thần chú Lục tự đại minh mà con được phép thực hành qua pháp tu Liên hoa Bách bộ Thần chú Đà la ni. Nhờ có vị Thầy giảng giải mà con mới có thể hiểu được gia trị của câu thần chú sáu âm tinh túy ấy là tương đương với thần chú trong Tâm kinh Bát nhã, tương đương với việc quán chiếu Ngũ uẩn giai không, quán chiếu đề mục Tứ diệu đế, làm lộ xuất Phật tánh bên trong và dẫn đến trí tuệ tánh Không.

        Câu chuyện về bà lão sống trên núi, ngày ngày sống với niềm vui là câu thần chú đã nói lên lợi lạc to lớn của pháp tu đơn giản mà hiệu quả này. Con xin cảm niệm thuận cảnh của mình, đặc biệt là may mắn được hạnh ngộ vị Thầy mà nhờ đó, ngay giữa đời sống thế sự đa đoan, con được thực hành một phương tiện tiếp cận Phật tánh, rèn luyện tinh thần hoan hỉ với thiện hạnh chúng sanh” (đại tri thần chú), ứng dụng chánh tư duy trên nền tảng chánh kiến (đại minh thần chú), khởi phát niềm kiêu hạnh thiêng liêng (vô thượng chú), và tinh thần vô úy (vô đẳng đẳng chú). Con thành tâm cầu nguyện cho sức khỏe và sự trường thọ của Thầy và Cô vì sự lợi lạc cho tất cả chúng sanh. Nguyện cho tất cả chúng sanh thành tựu hạnh phúc của Phật tánh.

        Om Mani Padme Hum.

  30. Kính bạch Thầy

    Con hoan hỷ tán thán trí tuệ đạo sư đã giảng luận cho chúng con về bài ” Tâm kinh bát nhã” của ngài Quán Âm tự tại đề cập đến trí tuệ tánh không mà nhiều nơi không thể làm được. Tánh không là mẫu số chung của ba tính chất là không tự có, tạo bởi duyên khởi trùng trùng, tác động bởi lẽ vô thường. Sắc tức là không, không chẳng khác sắc, sắc cũng như thân này gồm sắc thọ tưởng hành thức, sắc thanh hương vị xúc pháp rồi thân này cũng sẽ lụi tàn theo năm tháng là giấc mộng ảo huyền. Đại tri thần chú, đại minh thần chú, vô thượng chú, vô đẳng đẳng chú vượt hết tất thảy mọi khổ ách mà ứng dụng trong đời sống là hoan hỷ thiện hạnh chúng sanh, thực hành chánh kiến quang minh tam muội, khởi phát niềm kiêu hãnh linh thánh, niềm tin trực diện giáo pháp, ngoài ra thần chú của ngài là bản tâm của tất cả chư phật thánh chúng, nên tâm không ngăn ngại không sợ hãi mà đạt đến cứu cánh niết bàn.

    Cầu nguyện Thầy Cô sức khỏe và trường thọ vì lợi lạc chúng sanh

    Om mani padme hum

  31. Mật Nhất Nguyên (Lê Duy Trí) says:

    Kính bạch Thầy,

    Con xin cảm tạ vị Thầy đã từ bi sách tấn cho con. 

    Om Mani Padme Hum. 

  32. Mật Tấn Giác says:

    Kính bạch Thầy!

    Con hoan hỷ khi được nghe xong  bài giảng pháp ” Tâm kinh Bát nhã theo quan kiến tánh Không”. Con hoan hỷ tán công hạnh, trí tuệ và Bồ Đề tâm đã từ bi luận giảng những ý nghĩa cao diệu của “Tâm Kinh Bát nhã”, cho chúng con hiểu đúng thực nghĩa của bài kinh này. Con hoan hỷ tán thán tri tuệ, phương pháp sư phạm tuyệt vời của vị Thầy đã chỉ ra những lỗi bất hợp lý trong chuyển ngữ của “Tâm Kinh”, hạ tầng ngữ nghĩa một cách đơn giản và cô đọng nhất để chúng con có thể hiểu được thực nghĩa uyên áo, diệu thâm của “Tâm Kinh” và tinh túy của tánh Không.

    Kính bạch Thầy! Qua bài giảng con hiểu được bản chất tánh Không của tất cả các sự vật hiện tượng (vạn pháp) đều gồm 3 tính chất : (1) Không tự có; (2) Được tạo lập bởi trùng trùng duyên khởi; (3) Bị tác động bởi vô thường. Thông qua những ví dụ đơn giản và những câu chuyện gần gũi với đời sống thường ngày của chúng con, vị Thầy đã luận giảng “tánh Không” và “sắc, thọ, tưởng, hành, thức” có sự  khác biệt  về sự tương đối nhưng “chẳng khác” theo chân lý tuyệt đối.

    Con hiểu được thay vì “quán chiếu ngũ uẩn giai không”, chúng con được vị Thầy từ bi chỉ dạy những phương tiện thiện xảo, lấy kết quả làm con đường đó là niệm thần chú Mani của Đức Quán Âm Tứ Thủ (cũng chính là Ngài Quán Tự Tại Bồ Tát). Với (1) Đại tri thần chú (niệm thần chú với ấn quyết), là sự tán thán công hạnh của các chư Phật, Thánh chúng, thông qua Đạo sư Mật giáo; tán thán thiện hạnh của người khác, của tất cả các chúng sanh. Với (2) Đại minh thần chú (quán tưởng Bổn Tôn bên ngoài) là việc diễn tập, thực hành tu pháp Chánh kiến quang minh tam muội  qua việc đọc bài và viết comment trên chanhtuduy.com để có chánh kiến, chánh tư duy giúp minh định Chánh – Tà, Chân – Ngụy, bồi đắp những phẩm chất quang minh chính đại, dũng cảm đả tà xây chánh vì sự lợi lạc của chúng sanh. Với (3) Vô thượng chú (kết ấn, ngồi kiết già và quán tưởng Bổn Tôn bên trong) với ý nghĩa cao diệu là khởi phát niềm kiêu hãnh linh thánh của người hành giả, là bậc Thái tử vương hoàn vũ, là người học trò của Đạo sư Yoga Thanh Trí Thinley Nguyên Thành .Với (4) Vô đẳng đẳng chú (quán tưởng mình là Bổn Tôn) là bất khả tư nghì, dù khó khăn, gian khổ cùng cực vẫn luôn niêm tin kiên cố vào Thầy, Tam Bảo.

    Con  cảm ơn vị Thầy đã khai thị cho chúng con về lời dạy của Đức Phật trong kinh “Đại bát Niết bàn” phẩm Chiếu Biến Quang Minh Đại Bồ Tát Cao Quý Đức Vương: Muốn đạt thành tựu tâm linh thì phải xa hẳn nhân khổ hạnh và tuân theo 4 nguyên lý (1) Thân cận Tuệ tri thức, (2) Thường xuyên nghe Pháp, (3) Quán chiếu thực nghĩa, (4) Theo đó mà nỗ lực thực hành.

    Con thành tâm cảm tạ ơn vị Thầy về bài pháp ý nghĩa và lợi lạc và y giáo thực hành lời dạy của vị Thầy “rèn luyện tính hoan hỷ ở cấp độ một, ở cấp độ hai là rèn luyện đạo phong bằng đạo lực, thứ ba là đạt đạo quả và thứ tư là viên thành chánh đẳng, chánh giác, và cuối cùng là dùng trí huệ phương tiện để đạt bốn mục tiêu trên” và ghi nhớ đạo Phật là đạo “dung hòa”, chỉ “hòa” chứ không “đồng”, cần dùng trí tuệ phương tiện  trên các hành vi thân ngữ tâm trong đời sống thế gian (thuận thế gian mà vẫn giữ dược bản chất của người hành giả Yoga Thanh Trí).

    Con cầu nguyện Thầy Cô trụ thế lâu dài vì sự nghiệp Hoằng dương Chánh pháp, vì sự lợi lạc của tất cả chúng sanh.

    Cầu nguyện tất cả chúng sanh thành tựu hạnh phúc Phật tánh.

    OM MANI PADME HUM

  33. Kính bạch Thầy

    Con hoan hỷ khi nghe bài giảng ” Tâm kinh bát nhã theo quan kiến tánh không ”

    Con xin tán thán trí tuệ và công hạnh của Thầy đã luận giải để chúng con có thể hiểu được hoàn cảnh của lưu xuất , thực nghĩa của bản kinh ” Tâm kinh bát nhã ”

    Con xin cầu nguyện cho sức khỏe và sự trường thọ của Thầy và Cô

    Cầu nguyện cho tất cả chúng sanh thành tựu hạnh phúc phật tánh

    Om ah hum

  34. Mật Quảng Lợi says:

    Kính bạch Thầy.

    Con thật hoan hỷ khi được trực tiếp Thầy giảng và cũng đã nghe đi nghe lại nhiều lần bài : ” Tâm Kinh Bát Nhã theo quan kiến tánh Không”.

    Con cảm tạ ơn Thầy vì Từ bi và Bồ đề tâm của Thầy mà luận giải cho chúng trò thấu hiểu tánh “Không” trong Tâm Kinh Bát Nhã, mà có lẽ người tu học cả đời cũng có thể chưa thấu hiểu được. Tâm con dâng tràn niềm cảm xúc hỷ lạc qua bài giảng này của Thầy mà thầm cảm niệm ơn phước Bổn Tôn thông qua kênh vận chuyển từ vị Thầy vì cuộc hội ngộ tâm linh ở đời này kiếp này của con và Thầy, thật hoan hỷ thay.

    Con nguyện cầu cho sức khỏe và sự trường thọ của Thầy, Cô vì lợi lạc của tất cả chúng sanh.

    Cầu nguyện cho tất cả chúng sanh thành tựu hạnh phúc của Phật tánh.

    Om Mani Padme Hum.

     

  35. Kính Bạch Thầy

    Con đã nghe bài này rồi ạ

    Con cảm tạ ơn Thầy đã luận giảng bài pháp quý báo làm lợi lạc cho tất cả chúng sanh

    Khi nghe bài giảng con hiểu được những bản chất tánh không của mọi sự việc hiện tượng đều quy tựu với 3 yếu tố chính 1 không tự có  2 tạo lập bởi duyên khởi trùng trùng. 3  tác động bởi vô thường

    Cầu nguyện cho tất cả chúng sanh  thành tựu hạnh phúc phật tánh

    Cầu nguyện cho sức khỏe Thầy Cô trường thọ vì lọi lạc cho tất cả chúng sanh

    Om mani padme hum

  36. Nguyễn Hà Liên says:

    Kính bạch Thầy!

    Con Mật Tú Viên (Nguyễn Hà Liên) đã nghe bài giảng Pháp của vị Thầy rồi ạ. Con cảm tạ ơn Thầy đã từ bi giảng cho chúng con một bài Pháp quý báu về Tâm Kinh Bát Nhã theo quan kiến tánh Không. Con rất hoan hỷ với bài Pháp Thầy giảng và con được tiếp cận ý nghĩa của 1 trong 3 yếu tính Giác ngộ: tánh Không. Chúng con được nghe vị Thầy giảng về duyên khởi của bài Tâm Kinh Bát Nhã. Chúng con còn được vị Thầy khai thị về những mâu thuẫn trong nguyên lý nội tại được thể hiện qua bản dịch Việt ngữ mà các chùa, các nơi hiện nay đang đọc tụng. Bản dịch “Khi Ngài Quán Tự Tại Bồ Tát thực hành sâu xa pháp Bát Nhã ba la mật đa, soi thấy năm uẩn đều không, vượt qua hết thảy khổ ách” chưa đúng với thực nghĩa. Ngài Quán Tự Tại Bồ Tát đã được tôn xưng là Quán Tự Tại rồi vì vậy Ngài không còn phải thực hành nữa vì Ngài đã qua giai đoạn thực hành, đồng thời Ngài cũng không cần vượt qua hết thảy khổ ách nữa. Vì vậy, hiểu đúng theo thực nghĩa kinh văn sẽ là: Khi còn là phàm phu, Bồ Tát Quán Tự Tại đã đi sâu vào tu pháp Bát Nhã ba la mật đa, thấy được 5 uẩn đều không, từ đó Ngài bắt đầu độ hóa chúng sanh vượt qua hết thảy khổ ách. Con cảm tạ ơn Thầy đã luận giải cho chúng con, giúp chúng con hiểu được thực nghĩa kinh văn, đồng thời con cũng hiểu được rằng cần phải có chánh tư duy để nhận ra được đúng thực nghĩa kinh Phật, chứ không phải vì bản dịch được truyền tụng nhiều quá mà nhất nhất nghe theo.

    Con hoan hỷ khi được nghe Thầy giảng giải về các thuật ngữ trong bài Tâm Kinh Bát Nhã, trong đó tánh Không là một thuật ngữ cao siêu. Con hiểu được rằng tánh Không có 3 tính chất mà mọi sự vật, hiện tượng, con người đều nằm trong 3 tính chất ấy, đó là:

    1. Không tự có

    2. Được tạo lập bởi duyên khởi trùng trùng

    3. Bị tác động bởi vô thường.

    Con cảm tạ ơn Thầy đã giúp chúng con nhận ra được mẫu số chung giữa sắc, thọ với Không (tưởng, hành, thức cũng như vậy), đó là đều tiềm ẩn 3 tính chất của tánh Không. Sắc, thọ, tưởng, hành, thức đều giống với Không theo chân lý tuyệt đối, từ đó chúng con hiểu được rằng “sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc, sắc tức là không, không tức là sắc. Thọ, tưởng, hành, thức cũng đều như thế”. Đó là tính chất vô tự tánh của vạn pháp.

    Con hoan hỷ và cảm tạ ơn Thầy đã luận giải cho chúng con hiểu ý nghĩa những đoạn còn lại trong Tâm Kinh Bát Nhã. “Trong chân không không có sắc, thọ, tưởng, hành, thức; không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; không có sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp”. Nhờ Thầy khai thị, con hiểu được rằng sắc, thọ, tưởng, hành, thức vốn không có tự tánh, trong chân không 5 uẩn này là không có theo chân lý tuyệt đối, vậy nếu đã không có thì các cơ quan là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý với những yếu tố tác động là sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp thì cũng đều không có. “Tướng không của mọi pháp không sinh không diệt, không dơ không sạch, không thêm không bớt”. Con hiểu được rằng vì đã không có cảm thọ, không có tưởng đến, không có nhận thức, cũng không có sắc, thanh thì không thể biết thế nào là dơ, sạch, do vậy “không dơ không sạch”. Đồng thời, cũng không có sinh, không có diệt. Trong luân hồi thì sẽ có sanh, diệt, nhưng diệt rồi lại sanh, sanh rồi lại diệt… và cứ vậy quay vòng mãi, nhưng theo chân lý tuyệt đối thì “không sanh không diệt”. Ví như Phật tánh vốn có sẵn trong mỗi chúng sanh, nên Phật tánh không bao giờ sanh và cũng không bao giờ diệt.

    Tiếp đó, chúng con được Thầy khai thị để hiểu rằng “không có nhãn giới cho đến không có ý thức giới”, và “không có vô minh, cũng không có cái hết vô minh”. Con hiểu được rằng Phật tánh luôn sáng ngời, là bản lai diện mục, là chân như, vì vậy theo chân lý tuyệt đối thì sẽ không có vô minh. Nếu vô minh thì là do Phật tánh ấy chưa được hiển lộ. Vì đã không có vô minh nên sẽ không có cái hết vô minh. “Không có già, chết cũng không có cái hết già, chết”. Con hiểu được rằng theo chân lý tuyệt đối sẽ không có già, chết và cũng không có cái hết già chết; trong luân hồi sự sinh, già, bệnh, chết rồi tiếp tục lại sinh,… như 1 vòng quay liên tục tiếp diễn; chỉ có 1 sự bất tử là cảnh giới của cõi Phật, vì bất sinh cho nên bất diệt. “Không có khổ, tập, diệt, đạo”. Con hiểu được rằng khổ là do vô minh, mà vô minh đã không có thì sẽ không có khổ, mà đã không có khổ thì không có tập (nguyên nhân của khổ), mà không có nguyên nhân khổ thì không cần phải tìm ra con đường diệt khổ để thoát khổ, do vậy cũng không có diệt, đạo. Tứ diệu đế là trí tuệ nhà Phật, mà khổ, tập, diệt, đạo đều không có thì cũng không có trí tuệ. “Không có chứng đắc mà cũng không có chỗ chứng đắc”. Con hiểu được rằng Phật tánh vốn luôn sáng ngời, do vậy không có chuyện chứng đắc được Phật tánh, và do vậy cũng không có chỗ chứng đắc.

    Nhờ Thầy khai thị, con cũng được hiểu về  “chân không diệu hữu”: trong cái tối thượng của tánh Không vẫn lưu xuất tất cả những cái Có, phù hợp theo cảnh giới, theo tâm mình, chấp nhận những cái có nhưng quán chiếu về tính vô thường của mọi sự vật hiện tượng nên xả ly mọi bám chấp, tâm không còn ngăn ngại nên không còn sợ hãi, xa hẳn mộng tưởng điên đảo. Lời dạy của Ngài Thogme Zangpo trong 37 Pháp hành Bồ Tát đạo giúp cho hành giả nhận ra bản chất của sự vật hiện tượng, để từ đó xả ly mọi sự chấp thủ:

    “Mọi hình thức khổ đau đều như mộng ảo. Chấp các huyễn cảnh có thực sẽ làm nhọc tâm ta. Bởi vậy khi gặp nghịch cảnh hãy xem như là ảo huyễn. Đó là pháp hành Bồ Tát đạo”

    “Khi đối diện với các đối tượng hấp dẫn thấy chúng đẹp như cầu vồng giữa hạ, hãy biết rằng chúng không có tự tánh và hãy xả bỏ luyến ái chấp thủ. Đó là pháp hành Bồ Tát đạo”

    Và nhờ Thầy khai thị, con hiểu lời kinh “chư Phật ba đời cũng y theo Bát Nhã ba la mật đa mà đạt đạo quả vô thượng chánh đẳng chánh giác” rằng pháp tu “quán chiếu ngũ uẩn giai không” là 1 tu Pháp Phật dạy để viên thành đạo quả, đạt đến cảnh giới thậm thâm, trở thành bậc chánh đẳng chánh giác chứng ngộ tuyệt đối, khi đó sẽ coi như biết được tất cả các pháp khác. Như vậy, một là tất cả mà tất cả cũng là một. Và kết quả của việc chiếu kiến “ngũ uẩn giai không”, đó là tâm không ngăn ngại, vì không ngăn ngại nên không sợ hãi, xa hẳn mộng tưởng điên đảo, đạt tới cứu cánh Niết Bàn.

    “Cho nên biết Bát Nhã ba la mật đa là đại thần chú, là đại minh chú, là vô thượng chú, là vô đẳng đẳng chú trừ được hết thảy khổ, chân thật không hư”

    Con cảm tạ ơn Thầy đã khai thị cho chúng con về quán chiếu “ngũ uẩn giai không” theo mật giáo, đó là đại tri thần chú, đại minh thần chú, vô thượng chú, vô đẳng đẳng chú. Đại tri thần chú là loại thần chú giúp kích hoạt năng lực tư duy, động lực tư duy, để có được hiệu quả tư duy, có được chánh tư duy, phương pháp thực hành đó là niệm thần chú với ấn quyết. Đại minh thần chú là sau khi đã có được sự hiểu biết rộng sâu, biết những gì cần phải biết thì ta sẽ phá bỏ đi lớp màn vô minh, phát ra ánh sáng chánh kiến, đó là niệm thần chú và quán tưởng Bổn Tôn bên ngoài. Vô thượng chú là vừa niệm thần chú kèm ấn quyết, ngồi kiết già và quán tưởng Bổn Tôn bên trong. Vô đẳng đẳng chú là thần chú không gì sánh được, là quán tưởng mình chính là Bổn Tôn. Con cảm tạ Thầy đã khai thị cho chúng con về việc ứng dụng thần chú để được khai giác, có được trí huệ đáo bỉ ngạn, đó là:

    – Đại tri thần chú: nên hoan hỷ với thiện hạnh của tất cả chúng sanh, kể cả loài vật như con chó, con rùa.

    – Đại minh thần chú: về lý đó là tu pháp chánh kiến quang minh tam muội, khi chúng con diễn tập/thực hành tu pháp thì sẽ có được chánh tư duy để phân biệt được chánh – tà, để từ đó dần rực sáng về đạo phong, uyên thâm về đạo hạnh.

    – Vô thượng chú (thần chú cao diệu) là khởi phát niềm kiêu hãnh thiêng liêng là người con Phật.

    – Vô đẳng đẳng chú (thần chú bất khả tư nghì): đó là niềm tin bất diệt vào Thầy, Phật, Pháp, Tăng dù có trải qua gian khó cùng cực “Như con tàu giữa đại dương mênh mông, còn xa đất vẫn tin ngày cập bến”.

    Và để việc ứng dụng có hiệu quả, đạt được cả 4 mục tiêu trên, những người hành giả sống đời sống tại gia cần có trí huệ phương tiện để ứng dụng linh hoạt trong đời sống, để viên thành đời – đạo, đồng thời đem đến lợi lạc cho chúng sanh.

    Kính bạch Thầy! Con xin được tán thán Bồ đề tâm, trí huệ và công hạnh của vị Thầy đã giảng cho chúng con một bài Pháp lợi lạc, giúp cho chúng sanh chúng con được khai giác, được tiếp cận với trí huệ Tánh không cao diệu. Con rất hoan hỷ khi được nghe bài giảng của Thầy.

    Con thành tâm cầu nguyện Thầy Cô thân tâm an tịnh và trường thọ vì sự lợi lạc của tất cả chúng sanh.

    Cầu nguyện tất cả chúng sanh đều được uống tinh túy cam lồ và thành tựu hạnh phúc Phật tánh.

    Om Mani Padme Hum.

  37. Mật Khả Tuệ says:

    Kính bạch Thầy!

    Con đã nghe bài giảng của Thầy rồi.

    Con hoan hỷ công hạnh bồ đề tâm của vị Thầy đã luận giảng cho chúng con hiểu rõ thực nghĩa của Tâm Kinh Bát Nhã theo quan kiến Tánh không.

    Con cảm tạ Thầy đã cho chúng con bài giảng ý nghĩa và sâu sắc.

    Con cầu nguyện sức khoẻ của Thầy Cô vì lợi lạc của tất cả chúng sanh.

    Cầu nguyện cho tất cả chúng sanh tìm được nơi nương tựa chân thật.

    Om mani padme hum!

  38. Kính bạch Thầy!
    Con hoan hỷ khi được nghe bài giảng: “ Tâm kinh bát nhã theo quan kiến tánh không” của vị Thầy. Những lớp nghĩa thậm thâm cao diệu của Tâm kinh bát nhã đã được vị Thầy từ bi hạ tầng ngữ nghĩa và đi vào vấn đề cốt lõi để cho chúng con dù căn cơ chậm lụt cũng phần nào có thể hiểu được thực nghĩa tâm linh của bản kinh. Vị Thầy đã luận giảng cho chúng con được hiểu về những mâu thuẫn trong nguyên lí nội tại của bản dịch hiện hành, duyên khởi cũng như thực nghĩa tâm linh và ứng dụng thực hành của Tâm kinh bát nhã. Con hiểu rằng vấn đề cốt lõi để nhận thức về bản chất của mọi sự vật hiện tượng, đó là căn cứ vào ba tính chất của tánh Không: không tự có, do trùng trùng duyên khởi, chịu sự chi phối của vô thường. Do không hiểu được thực nghĩa như vậy nên nhiều hành giả đạo Phật tuy đã tu Phật lâu năm vẫn nhầm lẫn khi hiểu sắc và không là những phạm trù đối lập, thay vì là những phạm trù tương đồng vì đều có mẫu số chung là ba tính chất của tánh Không. Luận giảng của vị Thầy đã cho chúng con phần nào hiểu được thực nghĩa của tu pháp “ 5 uẩn đều không” vốn thậm thâm cao diệu, ban cho chúng con niềm tin rằng dù có thể chưa đạt tới cảnh giới đó nhưng chúng con nhờ nương theo trí huệ và phương pháp sư phạm của vị Thầy vẫn có thể có được tinh thần đó bằng cách xả ly sự chấp thủ.
    Về thực nghĩa ứng dụng của Tâm kinh bát nhã, con hoan hỷ khi được hiểu rằng dù chúng con là những hành giả cư sĩ tuy còn vướng bận bởi đời sống thế tục nhưng chúng con vẫn có thể có được một tu pháp ngang hàng với “ ngũ uẩn giai không”, đó chính là Thần chú bao gồm nhiều cấp độ: Đại tri thần chú ( giúp kích hoạt năng lượng tư duy để có được chánh tư duy – với học trò Mật gia Song Nguyễn được vị Thầy truyền dạy chính là niệm Thần chú với ấn quyết), tiếp đến là Đại minh thần chú ( do những điều đã biết nhiều, biết sâu, biết những điều đáng biết ở trên sẽ phá đi bức vô minh và phát ra ánh sáng của chánh kiến tức là quán tưởng Bổn tôn bên ngoài ), tiếp đến là Vô thượng chú ( có ấn quyết, ngồi kiết già và quán tưởng Bổn tôn bên trong), cuối cùng là Vô đẳng đẳng chú nghĩa là không gì sánh bằng ngang qua việc người tu quán tưởng mình chính là Bổn tôn. Con hiểu rằng với Mật gia Song Nguyễn chỉ cần một đời người một câu thần chú: Om mani padme hum cũng đủ phát huy được những công năng diệu dụng tương đương như vậy.
    Ngang qua luận giảng của Thầy, con được hiểu về phương diện ứng dụng Thần chú để khai giác: đầu tiên là rèn luyện tính hoan hỷ với thiện hạnh của tất cả chúng sanh; có được chánh tư duy ngang qua phát kiến tâm linh của vị Thầy là chánh kiến quang minh tam muội; khởi phát niềm kiêu hãnh thiêng liêng của người con Phật và bất khả tư nghì khi rơi vào nghịch cảnh, nỗi niềm của bát phong. Đặc biệt vị Thầy dạy chúng con sử dụng trí huệ phương tiện để đạt 4 mục tiêu: rèn luyện tính hoan hỷ, đạo phong và đạo lực, đạt đạo quả và viên thành chánh đẳng chánh giác.
    Con cảm tạ ơn Thầy đã từ bi luận giảng cho chúng con được hiểu để chúng con nhận thức được rằng, có thể dù chưa vượt qua được ngay đến bến bờ bên kia Giác ngộ nhưng chúng con cũng có thể có được sự an tâm, bình tâm để đối trị với mọi nghịch cảnh của thế gian trong cuộc sống còn nhiều dâu bể này.
    Con cầu nguyện Thầy, Cô khoẻ mạnh, trụ thế lâu dài vì lợi lạc của chúng sanh.
    Cầu nguyện tất cả chúng sanh thành tựu hạnh phúc của Phật tánh. Om mani padme hum

  39. Mật Bích Liên says:

    kính bạch Thầy,

    Con đã lắng nghe bài giảng Tâm kinh Bát nhã Ba la mật đa theo quan kiến Tánh không rồi ạ.

    Con hoan hỉ và cảm tạ ơn Thầy đã giảng cho chúng con nghe duyên khởi của bài kinh. Về một trí tuệ là Bát nhã Ba la mật đa, theo tiếng Hán dịch là trí tuệ đáo bỉ ngạn, nghĩa là vượt qua bờ bến bên kia, tức là vượt qua sanh tử. Con hoan hỉ và cảm tạ ơn Thầy đã luận giải thực nghĩa nguyên áo của bản kinh. Tất cả trí tuệ nào được khai giác bởi nhà Phật đều gọi là Tánh không. Tánh không là một trong những thuật ngữ cao siêu của nhà Phật mà 96 ngoại đạo không biết được. Quán Âm Tự Tại nói “năm uẩn đều không.” Ngài đã nhìn thấy như vậy. Qua ví dụ của Thầy con hiểu tất cả sự vật hiện tượng đều không tự có, được tạo lập bởi trùng trùng duyên khởi, bị tác động bởi vô thường. “Sắc thọ tưởng hành thức” là ngũ uẩn được kết nối với mắt tai mũi lưỡi thân ý, sắc thanh hương vị xúc pháp… tất cả đều tiềm ẩn 3 tính chất của Tánh không. Như Ngài Thogme Zangpo đã khuyến cáo “Khi đối diện với các đối tượng hấp dẫn, dù là thấy chúng đẹp đẽ như cầu vồng giữa hạ, hãy biết rằng chúng không có tự tánh, hãy xả bỏ luyến ái chấp thủ. Đó là pháp hành Bồ tát đạo.” hay “Mọi hình thức khổ đau đều như mộng ảo, chấp các huyễn ảnh có thực sẽ làm nhọc tâm ta. Bởi vậy khi gặp nghịch cảnh, hãy xem chúng như ảo huyễn, đó là pháp hành Bồ tát đạo.” Con cần phải xả ly, buông bỏ mọi sự bám chấp, phiền não, sợ hãi của cuộc sống tạm bợ ở thế gian này để có được tâm không sợ hãi, xa hẳn mộng tưởng điên đảo, đạt tới cứu cánh Niết bàn. Chỉ có cõi Phật mới là vĩnh hằng.

    Con cảm tạ ơn Thầy đả chỉ dạy cho chúng con một pháp tu có công năng vị diệu tương tự như quán chiếu ngũ uẩn giai không là thần chú Mani, Lục tự đại minh. Thần chú này phú hợp với những người có cuộc sống bận rộn với việc mưu sinh, không thể đến chùa nhưng vẫn có thể tu học trong mọi lục, mang đầy đủ các cấp bậc là (1) Đại tri Thần chú (kích hoạt năng lực tư duy, thấm đẫm chánh tư duy, biết tán thán thiện hạnh của chúng sanh) (2) Đại minh Thần chú (Rực sáng về đạo phong, uyên tâm về đạo lực, phá đi màng tối vô minh nhờ ánh sáng chánh kiến) (3) Vô thượng chú (khởi phát niềm kiêu hãnh thiêng liêng sau khi trở thành thái tử Hoàn Vũ) (4) Vô đẳng đẳng chú (Bất khả tư nghì, trước mọi nghịch cảnh vẫn giữ nhiềm tin vào chánh pháp)

    Con hoan hỉ và xin luôn ghi nhớ lời Thầy dạy, luôn rèn luyện tính hoan hỉ, quán xét tư cách của mình bên ngoài lẫn bên trong, sử dụng trí tuệ phương tiện (nghĩa là dung hoà nhưng không đồng thuận với thế gian mà vẫn giữ được bản chất của một hành giả Mật giáo để ứng dụng linh hoạt trong đời sống, viên thành đạo đời, lợi cho mình và cho người). Nhờ đó tâm con sẽ luôn bình thàn trước mọi diễn biến của cuộc đời.

    Con hoan hỉ và tán thán công hạnh của vị Thầy đã giảng cho chúng con nghe 1 bài pháp quý báu và lợi lạc, giúp chúng con hiểu và tiến gần hơn đến tánh Không. Con cầu nguyện cho sức khoẻ của Thầy và Cô vì sự lợi lạc cho tất cả chúng sanh. Nguyện cho tất cả chúng sanh thành tựu hạnh phúc của Phật tánh.

    Om Mani Padme Hum.

  40. Mật Tấn Giác says:

    Kính bạch Thầy!

    Con hoan hỷ được nghe bài giảng pháp ý nghĩa và lợi lạc của vị Thầy. Con hoan hỷ tán thán công hạnh, trí tuệ và Bồ đề tâm của vị Thầy đã luận giảng cho con và hữu tình về một đề mục rất khó là về Tâm kinh Bát nhã dựa trên quan kiến tánh Không. Một đề mục mà nhiều Phật tử hiện nay hiể mơ hồ, hiểu sai do người giảng không đi vào thực nghĩa mà chỉ “chăm chăm” vào tính cao siêu của đề mục tánh Không. Qua bài giảng này, vị Thầy đã làm rõ phần thực hành ứng dụng Tâm kinh Bát nhã nói riêng và những lời dạy của Đức Phật nói chung. Con hiểu được rằng: tánh Không có 3 tính chất là không tự có, do trùng trùng duyên khởi mà thành và bị tác động bởi vô thường. Tuy nhiên, nếu chỉ tán thán Tâm kinh thôi chưa đủ mà cần hiểu và đưa vào thực hành ứng dụng trong cuộc sống. Vị Thầy đã khai thị, thần chú Mani là hiện thân của mọi thần chú, có công năng vi diệu như thần chú trong Tâm kinh với 4 cấp độ thực hành: Đại tri thần chú, Đại minh thần chú, Vô thượng chú, Vô đẳng đẳng chú. Đồng thời Thầy đã chỉ ra cho chúng con cách ứng dụng thần chú Mani: hoan hỷ với thiện hạnh chúng sanh, rèn luyện chánh kiến quang minh tam muội để ứng dụng chánh tư duy vào cuộc sống, khởi phát niêm kiêu hãnh thiêng liêng và trong gian khó cùng cực vẫn giữ niềm tin không xoay chuyển. Qua đây, con thấy mình thật may mắn khi được thực hành phương tiện tiếp cận trí huệ tánh Không hiệu quả là diễn tập tu pháp Liên hoa bách bộ thần chú Đà la ni mang đến những lợi ích không thể nghĩ bàn. Con xin ghi nhớ lời Thầy dạy là cần luôn rèn luyện tính hoan hỷ với công đức, thiện hạnh chúng sanh, với niềm ơn phước nhận được, quán xét hành vi thân ngữ tâm của mình (về đạo phong, đạo lực, chánh kiên, chánh tư duy), khởi phát niềm kiêu hãnh linh thánh của người con Phật và giữ tâm luôn bình thản trước mọi diễn biến của cuộc đời.

    Con thành tâm cầu nguyện Thầy Cô trụ thế lâu dài vì sự lợi lạc của tất cả hữu tình.

    Cầu nguyện tất cả chúng sanh thành tựu hạnh phúc của Phật tánh, Cầu nguyện đại dịch Corona sớm được dứt trừ.

  41. Mật Thanh Phương says:

    Kính bạch Thầy,

    Con đã nghe bài giảng này và hiểu thêm phần nào về Tâm kinh Bát nhã trên quan kiến Tánh Không. Con xin tán thán công hạnh và sự từ bi của vị Thầy đã ban cho chúng con bài pháp dễ hiểu về đề mục khó này. 

    Con cầu nguyện sức khoẻ và sự trường thọ của Thầy, Cô vì lợi lạc chúng sanh.

    Cầu nguyện cho nỗi đau của chúng sanh được lắng dịu.

    Con cầu nguyện dịch bệnh Covid-19 sớm được tiêu trừ.

    Om Mani Padme Hum.

  42. Mật Giác Phương
    Mật Giác Phương says:

    Kính bạch Thầy,

    Con hoan hỷ được nghe Thầy bình giảng về Tâm kinh Bát nhã theo quan kiến tánh không.

    Tánh không là một phạm trù khó, Tâm kinh Bát nhã cũng là một bản kinh khó hiểu nhưng nhờ Thầy mà chúng con đã hiểu được. Thầy hạ tầng ngữ nghĩa, Thầy biến cái phức tạp thành giản đơn. Con cảm giác như chúng con đã chạm tay tới “một vì sao”, đã mở được một kho tàng quý giá! Thầy không những bình giảng giúp chúng con hiểu mà Thầy còn chỉ ra cách thực hành, ứng dụng một cách đơn giản. Con hoan hỷ tán thán công hạnh, trí huệ, bồ đề tâm của vị Thầy.

    Con cảm tạ ơn Thầy!

    Con cầu nguyện Thầy luôn mạnh khỏe và trường thọ vì sự lợi lạc của tát cả chúng sanh.

    Cầu nguyện dịch bệnh Covid trên toàn thế giới sớm được tiêu trừ.

    Om mani padme hum.

  43. Mật Nhẫn Hòa
    Mật Nhẫn Hòa says:

    Kính bạch Thầy
    Con hoan hỷ khi được nghe bài giảng và Tâm kinh bát nhã theo quan kiến Tánh không của vị Thầy ạ.
    Con cảm tạ ơn Thầy đã từ bi luận giảng cho chúng con có cơ hội được hiểu sâu hơn ạ.
    Con cầu nguyện cho sức khoẻ của vị Thầy vì lợi lạc của tất cả chúng sanh.
    Cầu nguyện cho tất cả chúng sanh thành tựu hạnh phúc Phật tánh.
    Cầu nguyện cho dịch bệnh covid 19 sớm được tiêu trừ.
    Om Mani Padme Hum.

  44. Mật Tú Viên
    Mật Tú Viên says:

    Kính bạch Thầy!
    Con hoan hỷ được nghe bài giảng Pháp “Tâm kinh Bát nhã theo quan kiến Tánh Không” của vị Thầy. Con cảm tạ ơn Thầy đã từ bi giảng giải cho chúng con về 1 phạm trù cao siêu của đạo Phật là Tánh Không, về bài Tâm kinh Bát nhã ba la mật đa. Nhờ được vị Thầy hạ tầng ngữ nghĩa, dùng thí dụ lượng giúp chúng con dễ hiểu hơn, mà chúng con dù vẫn còn sơ cơ học đạo nhưng cũng được chạm tay 1 phần vào mép cửa Giải thoát. Vị Thầy khai thị cho chúng con hiểu bản Tâm Kinh Bát Nhã theo đúng thực nghĩa, đồng thời vị Thầy chỉ dạy chúng con cách ứng dụng thần chú để khai giác.
    Con cảm tạ ơn Thầy đã từ bi khai thị cho chúng con một bài Pháp lợi lạc.
    Con thành tâm cầu nguyện vị Thầy nhiều sức khỏe, thân tâm an tịnh và trụ thế dài lâu vì sự lợi lạc của tất cả chúng sanh.
    Cầu nguyện tất cả chúng sanh thành tựu hạnh phúc Phật tánh.
    Cầu nguyện đại dịch Covid 19 mau chóng bị tiêu trừ.
    Om Mani Padme Hum.

    • Nguyên Thành
      Nguyên Thành says:

      Thầy đã gắng sức rồi! Không thể thêm bớt.

      • Mật Tú Viên
        Mật Tú Viên says:

        Kính bạch Thầy!
        Con hoan hỷ được đón nhận tinh túy giáo Pháp Phật đà về đề mục Tánh Không được vị Thầy khai thị qua bài giảng. Vị Thầy đã “bắc cầu” giúp chúng con được đến gần, “chạm tay” vào bề mặt của yếu tính Giác ngộ thứ 3 đầy cao siêu và vi diệu này. Con hoan hỷ tán thán Trí huệ và Bồ đề tâm của vị Thầy đã giảng bài Pháp lợi lạc cho chúng con.
        Con cầu nguyện vị Thầy dồi dào sức khỏe và trường thọ vì sự lợi lạc của chúng sanh.
        Om Mani Padme Hum.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

DMCA.com Protection Status