Oct 10, 2017

Posted by in Lá thư người tâm đạo, Pháp là cuộc sống | Comments Off on Ẩn sĩ giữa đời thường (Bài mở)

Ẩn sĩ giữa đời thường (Bài mở)

Ẩn sĩ giữa đời thường (Bài mở)

Không khí văn nghệ ở Phòng trà MỘT CÕI tại thị xã Bà Rịa vào tối 28/04/2012, bừng lên ngọn lửa sôi động khi những tiếng vỗ tay như sấm động, vang lên trước sự xuất hiện của một người đàn ông luống tuổi, được cô M.C giới thiệu là Thầy N.T sẽ đến với khán giả bài “Ánh từ quang”.

(Văn nghệ ở Phòng trà Một Cõi)

Giọng hát khoẻ, đúng nhạc, rõ tiếng làm cho khán giả khá bất ngờ trước một “cây hát” nghiệp dư . Tôi không ngạc nhiên lắm, vì đã nghe nhiều người cao tuổi hát hay đến mức say đắm lòng người. Tôi chỉ ngạc nhiên là tại sao người đàn ông này được giới thiệu là “Thầy N.T”. Ông ta trước mắt tôi đêm ấy là một trung niên lịch lãm trong trang phục áo thổ cẩm, quần tây đen, đôi kiếng cận vắt ngang gương mặt nghiêm túc, nhưng cũng có đôi phần nghệ sĩ. Chắc là ông ta dạy học ở trường nào đó, còn bây giờ học trò cũ đành xướng ngôn là thầy chứ sao?

Cũng lạ, tiếng hát hơi khàn, nhưng ca từ lại không phải đúng theo nhạc chính bản. Tôi cũng không phải am hiểu nhạc lắm, nhưng bài này là giai điệu của bản tình ca “ĐÔI BỜ”, nhạc Nga với những lời hát là “ Đêm dần qua, gió mưa rơi, em mong chờ anh tới. Cây cỏ hoang không nói nên lời, em hạnh phúc nhất đời…”. Tôi lại nghe hát là “ Bao ngày qua, mãi lang thang như con thuyền không bến. Trôi về đâu trong kiếp luân hồi, nơi biển sóng dâng trào. Vì đâu tâm cứ mãi đắm say. Sắc trần luôn bủa vây…”. Lời bài hát mang tính đạo ca, tạo ra ấn tượng người nghe khá bất ngờ. Sau buổi tối hôm đó, tôi không kịp trò chuyện vì ông ấy về trước cùng với người vợ mình. Trông họ sóng đôi, tôi thầm ganh tỵ trước hạnh phúc lứa đôi trong độ tuổi mà thế gian hay gọi là “mùa thu của cuộc sống”! Tôi hơi hụt hẫng, không biết bao giờ mình gặp lại ông ta, khi vốn dĩ giữa chúng tôi không có đường dây quan hệ nào, cho đến một hôm…

KHÔNG HẸN MÀ GẶP

Hai tháng sau, thời gian trôi nhanh như bóng câu qua cửa sổ. Quán cà phê TRẦM đường Đồng Khởi, thành phố Vũng Tàu hôm ấy vắng khách. Tôi lặng người thu mình trong góc nhỏ, đang lang thang với những dòng tưởng mênh mang cứ ập đến, tựa như những sóng nước sông Hậu vào mùa lũ. Bất ngờ, tất cả những niệm tưởng dừng lại vì ông ta! Chính ông ấy, cũng với mái tóc hơi dày, vầng trán cao rộng với đôi kiếng cận cùng với người vợ . Tôi không thể nhầm được!

Lần này, cùng với vợ chồng ông ta còn có 4 người khác nữa. Họ còn trẻ tuổi, chừng 30 trở lại. Tôi liền đến gần trong sự e dè:

–         Thưa chú! Rất vui gặp lại cô chú! Tôi là một khán giả hôm dịp lễ 30/4 vừa rồi, thấy chú trên sân khấu phòng trà “Một Cõi”. Định tỏ bày một khúc mắc, mong chú giải toả cho!

–         Không sao! Anh ngồi xuống đây! Tôi cũng nhớ hôm đó, anh chụp hình tôi đang hát.

Tôi bẽn lẽn mĩm cười “chạy tội”:

–         Xin lỗi, tôi muốn ghi hình làm kỷ niệm. Nhờ vậy hôm nay mới nhận ra chú ngay !

Tôi bắt tay những người đi cùng ông. Họ niềm nở cười chào. Ông ấy giới thiệu từng người, nghe tên lạ lạ: Nào là Mật Hải, Mật Tâm, Mật Thuỷ, Mật Dung…

Thấy tôi hơi bối rối, ông ta giải thích: “Đừng ngạc nhiên, những ai là học trò thì tôi đều gọi tên họ bắt đầu từ chữ MẬT”. Chà chà! Vụ này hơi ngộ đó nghen! Hồi nhỏ, tôi đọc truyện viễn tưởng “Hai mươi ngàn dặm dưới đáy biển” của Jule Verne, được biết thuyền trưởng Nemo đặt tên cho thuỷ thủ của mình khi họ gắn kết đời sống với ông dưới lòng đại dương. Vậy thì ông ấy đích thực là thầy giáo rồi!

Tôi hoà vào câu chuyện của họ thực tự nhiên, cảm nhận được không khí ở họ có gì đó hỷ lạc. Những người học trò của ông ta, phong mạo cũng khác thường, mặc dù họ vẫn phục sức như người thường. Họ tỏ ra hết mực cung kính với vị thầy của mình. Nhưng họ lại không dùng từ thế gian là “Thưa Thầy”, mà lại là “Bạch Thầy”. Cử chỉ của ông ta thật phóng đạt, chút gì đó phiêu bồng nhưng mà lại đôi khi thật “trẻ thơ” trong tiếng cười của mình! Câu chuyện chúng tôi xoay quanh thú vui ẩm thực, chưa đá động gì đến đề tài khác. Tôi cũng không biết thế nào để mở cánh cửa thắc mắc của mình về ông ấy. Một tiếng sau, ông ta và học trò đứng lên ra về, tôi bèn buột miệng”:

–         Chú ơi, tôi không hiểu chú dạy môn gì để lớp trẻ này được học hỏi?

–         Thế ư? Vậy thì chú đến chỗ tôi để tìm hiểu tường tận hơn là tôi dạy môn gì!

Nhìn những học trò ông ta đứng nghiêm, chắp tay, cúi đầu tạm biệt thầy, tôi lại càng ngạc nhiên, tâm trí tôi xoay quầng với những câu hỏi chưa lời đáp.

ĐẾN VÀ THẤY

Theo hướng dẫn của ông ta hôm trước, tôi lần lần tìm đến chỗ cư trú. Đường vào khu di tích Căn cứ Núi Dinh sao mà đẹp thế! Mặt đường rộng thoáng như xa lộ, chẳng khác như trước đây hai năm, lởm chởm ổ chuột, nham nhở những ổ voi. Thích nhất của tôi là vừa đi xe, vừa ngắm cảnh vật của núi non hùng vĩ phía trước. Khi dáng núi hiện rõ càng gần, tôi dừng lại một ngã ba trước một cổng làng gọi là thôn văn hoá Phước Thành.

Đường vào thôn được tráng nhựa đường, hẹp thôi, nhưng có vẻ lạnh lạnh vì hơi núi phả vào. Hai bên đường làng chỉ là cây cao bóng mát, rợp màu thiên nhiên, đặc biệt màu mái cong, ngói đỏ của nhiều chùa, tịnh xá, tu viện, khiến cho không gian ở đây thanh thoát, tịch lặng khác hẳn sự xô bồ ở ngoài đường lộ. Tôi thả xe chậm chậm, tận hưởng mùi thơm cây lá, phóng xa tầm mắt vào tượng đài Quán Thế Am ở phía chân trời, giữa núi thẩm bạt ngàn màu xanh. Hoá ra, đây là chỗ mà người ta gọi là làng Chùa núi Dinh, thuộc xã Tân Hoà, huyện Tân Thành, giống như ở làng Chùa thôn Vạn Hạnh cùng huyện này.

Một vị sư già có chức sắc ở đây cho biết, toàn thôn gần 250 tự viện, tịnh xã, chùa lớn nhỏ và am cốc của các chư tăng, ni, cư sĩ.. Tính về số lượng người tu đạo Phật ở đây lên đến gần 1000 người. Làng mới hình thành cách đây 25 năm, trong sự hoang sơ, dã chiến. Nay nhìn lại đường xá thông suốt, chùa chiền dựng lên nhiều, khách thập phương đến đây bái vọng đông đảo, nhất là vào mùa lễ lớn của đạo Phật…, ai nấy không khỏi vui mừng! Những ngôi nhà người dân cũng theo đó mà khang trang, đời sống người dân cũng theo đó mà khá lên dần. Tôi thấy những biệt thự toạ lạc ở nơi này, những nhà cấp 4 đó đây hiện ra trên đồi cao, thấp thoáng giữa màu xanh cây lá. Thật sự giống như phố núi cao nguyên, nhưng đặc sắc hơn bởi không gian thoát tục.

Hít sâu hơi thở vào lồng ngực, tôi  cảm nhận nơi đây nhiều thanh khí. Giá mà về già, tôi lại được cư ngụ tại một nơi như thế này hạnh phúc biết bao!  Vẩn vơ với ý nghĩ ấy, tôi dừng lại lúc nào không hay, như một quán tính tự nhiên, trước một hẻm vào khoảng 3m, đầu cổng có treo cờ Phật giáo phất phới. Cánh cửa màu nhụ bạc đóng kín. Tôi gọi điện với sự hồi hộp vì biết mình sắp gặp nhân vật của bài viết.

(Cánh cửa màu nhụ bạc đóng kín)

 Lát sau, một thanh niên ra mở cửa với nụ cười trên môi:

–         Mời anh vào, Thầy đang đợi ở Thanh Phong các!

Tôi đổ xe xuống dốc, là con đường dài khoảng 10 mét, uốn lượn vào nhà. Người học trò bảo tôi: “Đây là con đường mang tên “Tiệm tiến”, có nghĩa là từ từ mà tiến như bậc thang, không thể bước ngang, bước nhảy vọt”. Thực sự tôi không hiểu anh ta muốn nói gì, nhưng tôi nghe có lý bởi vì phàm là sự gì cũng bắt đầu từ dễ đến khó, từ đơn giản đến tinh tế. Tôi lại càng suy gẫm hơn khi dừng xe, lại thấy một câu đối viết bằng nét thư pháp ngay ở 2 trụ cổng: “CỬA MẬT GIA TRANG NGHIÊM KHÔNG TUỲ ĐÓN KHÁCH. NƠI TỊNH CƯ THANH TRÍ CHỚ PHIẾM LUẬN CHUYỆN ĐỜI”.

Anh học trò mĩm cười nhìn tôi dán mắt vào câu đối, rồi nhẹ nhàng mời:

–         Anh xuống đây cùng tôi gặp Thầy!

Tôi đi xuống bậc thang thứ 7, lướt qua một đoạn gạch tàu, dừng trước cánh cửa phòng có ghi hàng chữ “Mật gia Song Nguyễn”. Lại bước xuống tam cấp, tôi đặt chân trên những viên đá tròn, gọi là đá tẩy, xếp theo hàng thẳng cho đến một mái lều khá rộng, được làm nên từ những ụ cây si . Đàng xa thấy toàn cây lá làm mái che, phía dưới là một tấm lều màu xanh da trời.

 (Một góc ở Mật gia Song Nguyễn)

Ở đó, tôi thấy ai đó quen quen, đang ngồi trên một bồ đoàn màu vàng. Ồ! Hoá ra là ông ấy! Ông ta đang mĩm cười với tôi. Ông lại mặc một bộ đồ màu trắng xám, có nút gài ngang tựa như đồ Tàu, mà không phải Tàu. Ông ngồi kiết già trước bộ ấm trà và 4 nệm ngồi ở hai bên bàn trà. Trông ông ta bây giờ hoàn toàn khác với lần hát trên sân khấu phòng trà MỘT CÕI. Phong thái ở đây như vị đạo sĩ uy nghiêm, khác trước đó như một nghệ sĩ phiêu linh, thảo nào tôi nhận không ra!

Ông ra hiệu mời tôi ngồi xuống. Tôi bỗng dưng thấy rụt rè trước ông ta, bất giác buột miệng: “Thưa..Thầy”. Thầy cười nhẹ:

–         Anh cứ gọi tôi thế nào theo tâm ý của mình! Danh tự nào cũng chẳng có thực tánh!

–         Dạ, Thầy nói con không hiểu lắm!

Thầy không nói gì, mời tôi dùng trà. Chất trà Oolong thật ngon, thật đặc trưng. Tôi ngồi nhìn ra, trước mắt tôi là một nhà mát, có mái che kiểu cọ, mặt sàn chân đài là một nền gạch hoa bóng ngời, Thầy gọi đó là “Lạc cảnh đài”.  Những dây leo Cát tường rũ xuống những hoa màu tím thật đẹp. Xa xa ở trên cao là ngôi nhà cấp 4 màu xanh ngọc, toạ lạc trên ngọn đồi thấp, Thầy gọi đó là Mật gia. Phía trước ở dưới là con suối nhân tạo lượn lờ dòng nước trong xanh, Thầy gọi đó là suối “Tịnh nghiệp”. Trên con suối có xây 2 chiếc cầu bước qua, Thầy gọi là cầu “Vượt qua”. Bên dòng suối là những viên đá tròn rộng vừa đủ sải những bước chân dưa đến cầu “Vượt qua” mà Thầy gọi đó là con đường “Chánh kiến”. Những cái tên gọi trông hay hay, có vẻ cổ kính như tôi từng gặp ở khu du lịch Suối Tiên, TP HCM. Với tôi, ý nghĩa tuy hiểu được nhưng còn mơ hồ. Vì là lớp trẻ nên tôi cũng chưa bắt kịp tư duy của ngôn ngữ “kiểu Tàu”. Thầy ôn tồn giải thích, rằng trong ngôn ngữ tiếng Việt, những từ Hán-Việt thường trang trọng, nên phù hợp với cảnh trí ẩn dật vùng cận sơn, nơi tôn nghiêm mang sắc màu đạo pháp. Tuy nhiên, Thầy lại tiếp, những ngôn từ ở đây hàm ý theo ngữ nghĩa Phật gia… Nghe qua, tôi ngầm hiểu Thầy là ai, nhưng chưa đoan chắc.

(Con đường chánh kiến và dòng suối Tịnh Nghiệp)

Tôi cùng Thầy đếm bước chân trên bãi cỏ nhung lác đác, điểm xuyến vài loại cây cảnh như cây mai, hoa địa lan, hoa móng tay. Hàng trăm con cá rô, cá phi, cá tràu, cá chép bơi lượn trên mặt nước dòng suối Tịnh nghiệp, tôi lấy làm lạ là nó cứ nhiễu quanh chỗ Thầy đang đứng, cho đến khi Thầy qua chỗ khác.

–         Thầy nuôi cá ư?

–         Không, tôi không nuôi. Trận mưa lũ nước ngập đầy, cá từ đâu không biết theo dòng suối thiệt ngoài kia, rồi tràn vào cách đây 4 năm. Nay trông nhiều như vậy!

 (Nàng sứ giữa hồ và những chú cá vàng tung tăng)

Được biết, Thầy tự mỗi ngày cho chúng cá ăn 2 lần, theo thói quen, hễ Thầy vỗ tay thì chúng bơi lại, có con phóng lên cao trông ngoạn mục. Tuy nhiên, tôi vẫn thích những chú cá kiểng ở hồ “Dấu chân Phật” hơn! Thầy vỗ tay, mấy chú cá đỏ, trắng, nhiều màu, tung tăng nguẫy đôi trên mặt nước đớp mồi. Đây là một cái hồ nổi, rộng khoảng 40 m2. Đặc biệt, ở đây có 3 chú rùa to bằng 2 bàn tay chụm lại.

Thầy ngoắc tay là chúng bơi lại, dù mỗi chú ở mỗi vị trí khác nhau. Giữa hồ là một cây sứ Thái Lan, được trồng trên một chậu đúc có gắn 8 cánh sen cách điệu. Trên đó có một tượng Phật nhỏ như nửa bàn tay, được tôn trí ở dưới, sát bên thân cây sứ.

–         Tại sao hồ mang tên “Dấu chân Phật”?

–         Tại vì nó giống như dấu chân Phật?

–         Thưa Thầy, con đâu thấy gì đâu!

Nở nụ cười hoan hỷ Thầy cho biết chỉ thấy dấu chân khi chụp từ trên cao. Thuở ban đâu, người thợ xây theo đường cong quẹo tuỳ ý để ra vẻ cái hồ mềm mại. Hồ là phải có sen nên Thầy dùng cánh sen cách điệu. Sau này, vô tình chụp từ trên cao xuống, thấy hiện lên một dấu chân khổng lồ, giữa lòng chân có hoa sen, như là một luân xa. Loại chân như vậy chỉ có ở Đức Phật, người có 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp. Để rõ thêm, Thầy dẫn tôi lên Lạc cảnh đài, nơi tôn trí vài bức ảnh giới thiệu phong cảnh Mật gia, Thầy chỉ xem hình chụp từ trên cao thì quả thật đúng bàn chân người theo sự cách điệu của đường nét.

(Hồ dấu chân Phật)

Tôi hết sức ngạc nhiên vì sự trùng hợp này! Nhưng có lẽ sự ngạc còn nữa khi được Thầy chỉ sang một công trình khác: Liên hoa đài! Lúc bấy giờ tôi mới nhận ra trước mắt tôi là một hoa sen khổng lồ với 27 cánh sen cách điệu, xung quanh mặt sen có đường kính khoảng 10m. Trên là một nhà mát, mái cong lợp tôn mát màu xanh da trời, ở ngoài được bao quanh những tấm kiếng trong, như một đoá sen pha lê vậy. Bên trong tôn trí vài linh ảnh Phật, Thánh chúng. Tôi lại chú mục vào hình ảnh trung tâm là Quán Am Tứ Thủ, một hình thức của Bồ tát Quán Thế Am có 4 tay, được thờ tự và quán tưởng theo trường phái Phật giáo Tây Tạng. Những kiến thức Phật học sơ đẳng của tôi chỉ hiểu đến thế là xong. Giờ thì tôi đoan chắc Thầy là một thiền giả Phật giáo, nhưng chỉ ngạc nhiên tại sao các vị thanh niên nam nữ lại gọi bằng “Thầy”, trong khi danh từ đó chỉ dành cho tăng ni trong chùa?

 (Liên Hoa Đài)

NGHE VÀ HIỂU

Tôi cùng Thầy vào ngồi lại ở Thanh Phong các. Tuần trà khác lại tiếp vào, hương trà đã nhạt nhưng thắc mắc của tôi cứ đậm dần sự ngạc nhiên, cần được giải toả. Một nữ học trò khác của Thầy từ trên nhà đem xuống đĩa trái cây, dường như để tiếp nguồn thêm câu chuyện. Đáp lại câu hỏi của tôi Thầy có đôi chút trầm ngâm, liền đưa tôi xem quyển pháp liệu của Mật gia Song Nguyễn có tựa đề: “Đôi điều về Đạo sư cư sĩ”, rồi nói:

–         Anh xem quyển này, sẽ hiểu tường tận!

–         Con sẽ xem, nhưng Thầy giảng giải trước thì thú vị hơn!

Tôi nói với thái độ thành khẩn của người muốn nghe. Có lẽ hiểu được tâm trạng tôi, Thầy bắt đầu từng câu cắt nghĩa với chất giọng miền Trung, hơi nhanh trong cách nói. Câu đầu tiên thật bất ngờ với tôi:

–         Anh đến đây bằng xe hơi, vậy trước đó anh gọi người dạy lái xe cho anh bằng gì?

–         Dạ, bằng Thầy!

–         Anh học ngoại ngữ ở Trung tâm thì gọi người dạy tiếng Anh bằng gì?

–         Dạ, bằng Thầy (teacher)

Thầy mĩm cười ý nhị, rồi tiếp tục:

–         Thế đó, tôi dạy cho các em ở đây thanh trí, nâng cao khả năng tạo lập an lạc, tăng cường hệ miễn dịch chống phiền não. Vậy, các em gọi tôi bằng gì?

–         Dạ, đương nhiên là Thầy!

 (Bìa sách Đôi điều về đạo sư cư sĩ)

Thầy khuyên tôi đừng nghĩ chữ Thầy cao xa về học vị, về hình thức biểu hiện ở học đường, giảng đường. Từ xưa, thế gian cũng từng thể hiện sự tôn kính đó bằng ngạn ngữ: “Nhất tự vi sư, bán tự vi sư” (dạy một chữ cũng là Thầy, dạy nửa chữ cũng là Thầy). Thầy dạy không nhất thiết được tốt nghiệp ở trường đại học. Mới đây, báo chí đưa tin một cô giáo học lớp năm, tức là bậc tiểu học, đã xoá mù được hằng trăm trẻ em thất học ở một tỉnh miền Trung. Thầy dạy có lẽ được tôn kính khi họ trải lòng chân thật để truyền thông kiến thức đến học trò, bằng không chỉ là trò bán kiến thức! Tôi tâm đắc câu này của Thầy. Tôi cũng đã đọc câu truyện “Người Thầy đầu tiên” của nhà văn Xô viết là Aitmatop, kể về Thầy giáo Duy- sen là bộ đội phục viên, lên non dạy chữ cho con em người miền thượng. Về sau, Thầy đã truyền lửa khuyến học, đào tạo ban đầu được một học trò xuất sắc đó là trò nữ An-tư-nai, sau này trở thành tiến sĩ Ngữ văn học trường đại học Moscow, nước Nga. Câu chuyện cảm động rơi nước mắt với kết cuộc không có hậu trong tâm trí tôi. Có lẽ nhờ sự liên tưởng này, tôi dễ giao thoa với từ trường an lạc của Thầy nhiều hơn.

Thầy ngừng lại câu chuyện, hướng dẫn tôi đi quanh hồ Dấu chân Phật, bước chân trái tới trước đọc là OM MA NI, bước chân phải theo sau đọc thầm PAD ME HUM. Thầy gọi đây là chánh niệm trong từng bước chân, còn gọi là “thiền động” với thần chú lục tự đại minh (sáu âm thanh tịnh) của Quán Thế Am Bồ tát, một bậc đại thánh rất có duyên lành trong sự cứu giúp chúng sanh muôn loài. Thầy cũng cho biết, cách này trước hết giúp mình tẩy trừ phiền não gọi “thanh trí” (Thanh: có nghĩa là thanh lọc để đạt thanh tịnh; Trí là những vọng tưởng bất chánh của con người thế tục). Giờ thì tôi biết Thầy dạy cách thanh trí bằng thiền tập. Theo lập luận của Thầy, cũng là trích dẫn theo kinh văn, thì thần chú là tiêu biểu cho niệm tưởng thanh tịnh, là phương tiện để diệt trừ phiền não, ô trược. Vì vậy, niệm thần chú càng nhiều, đúng pháp thì tâm trí được thanh lọc, tẩy trần, dần dần trở nên thanh tịnh từng phần cho đến toàn phần.

 (Thần chú Lục Tự Đại Minh)

Trong khi Thầy vào Liên hoa đài lấy pháp liệu, một học trò nữ của Thầy là Mật Thuỷ cho tôi biết, đây chỉ là một cách thiền trong 4 phương pháp thiền mà Thầy dạy cho học trò, được ứng dụng trong không gian linh thánh gọi là “thiền tĩnh”; trong sinh hoạt đời thường với sự đi đứng nằm ngồi gọi là “thiền động”. Do vừa có tĩnh vừa có động nên mạch thiền không bị gián đoạn, tức là mọi sự đều nằm trong quỹ đạo thiền. Nhờ đó, tâm trí lâu ngày được thanh lọc, kết quả cuối cùng của thanh lọc là thanh tịnh. Cô cho biết, cô đã học thiền để thanh trí khoảng 2 năm sau một lần tình cờ đọc được tác phẩm của Thầy Thinley Nguyên Thành được bày bán ở các chùa. Đó là 2 quyển sách “Một đời người, một câu thần chú”, “Pháp là cuộc sống theo quan kiến Mật giáo”. Ở trên mạng thì gõ từ khoá “Một đời người, một câu thần chú” thì có thể đọc được khoảng 20 trang web đăng tải. Do vậy, nhiều người biết đến và tầm học. Gần thì Thầy dạy trực tiếp, xa thì Thầy dạy hàm thụ bằng thư điện tử (email)…. Đến nay thì nhiều tỉnh thành đều đã có học trò của Thầy. Mật Thuỷ cho biết là người ở huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, chỉ qua một học trò nam khác là Mật Thắng- TP HCM, Mật Hải- thành phố Cà Mau, Mật Tâm- tỉnh Bình Dương.

 (Gõ từ khoá “Một đời người, một câu thần chú” )

Câu chuyện chúng tôi tạm dừng khi Thầy trở lại Thanh phong các. Thầy gửi tôi vài quyển sách đã viết để tôi hiểu thêm về thiền tập, cũng là món quà lưu niệm trước khi ra về. 

(Bìa sách Một đời người một câu thần chú – Thinley Nguyên Thành)

Tôi vốn là kẻ hay đi, vì vậy trước nay cứ nghĩ thiền là phải ở chánh điện, trước bàn thờ, hay trong căn phòng yên lặng. Không đời nào tôi nghĩ là mình có thể tập thiền, thế nhưng hôm nay nghe Mật Thuỷ nói có “thiền động” nên mừng lắm:

-Thưa Thầy, con hỏi thế nào là “thiền động”, nguồn gốc xuất xứ để con được mở rộng tầm nhìn!

Thầy trầm ngâm, đôi kiếng cận gần như muốn trệ xuống, ánh mắt Thầy trở nên lóng lánh, về sau tôi mới biết là mỗi khi nhắc các vị tổ sư, Thầy thường tỏ ra xúc động. Giọng Thầy trở nên đều đều, khác sự sôi nổi như vừa rồi. Tâm trí tôi cùng Thầy trôi ngược dòng thời gian để trở về quá khứ…

 (Đại sĩ Liên Hoa Sanh – Sơ tổ Mật tông Tây tạng)

Thưở trước vào thế kỷ thứ 8 có một vị tăng đắc đạo, người An Độ. Ngài được gọi là Padmasambhava (Liên Hoa Sanh). Về sau, ngài không muốn bị câu thúc trong đời sống tăng đoàn, nên ngài hoàn tục, vân du đó đây, giáo hoá chúng sanh tu theo Phật pháp. Về sau, vua nước Tây Tạng thời bấy giờ là Trison Deutsong vì xây chùa Samye (Đại Chiêu) để thờ phụng Phật pháp không thành công, nên liền mời ngài Liên Hoa Sanh qua giúp đỡ. Quả nhiên, sau 5 năm công trình hoàn thành. Từ đó, ngài Liên Hoa Sanh ở lại Tây Tạng 55 năm, giúp vua giáo hoá dân chúng, rộng giảng Phật pháp, thiết lập tăng đoàn, đào tạo người tài. Kết quả là người dân Tây Tạng vốn ngang ngược, hung bạo, tham lam trước đó, sau này trở thành những người tin Phật, hiểu rõ nhân quả, tinh tấn thực hành giáo pháp. Họ trở nên hiền hoà, hiếu khách và đặc biệt là sùng mộ Phật giáo.

Khi ngài Liên Hoa Sanh lưu hoá ở Tây Tạng, được vua dâng tặng một vương phi tuyệt sắc, tên gọi là Tsogyal Yeshe (Trí huệ nhiệm mầu). Tsogyal Yeshe trở thành nữ đệ tử đầu tiên, cũng là minh phi của ngài. Bà là nữ đạo sư kiệt xuất, chứng ngộ ngang với thầy mình. Bà trợ lý và hỗ trợ cho ngài Liên Hoa Sanh xiển dương giáo pháp Phật đà khắp nơi ở Tây Tạng. Chính bà là người ghi chép đầy đủ những lời dạy của Thầy mình, thành những quyển kinh, cất dấu nhiều nơi trong sông hồ, vách núi, bìa rừng với ấn chứng sẽ gặp người có duyên lành về sau, mỗi khi xứ tuyết trải qua pháp nạn. Những pháp tu do ngài dạy có những mô thức dành cho tăng lữ, có những phương pháp dành cho cư sĩ có đời sống gia chủ, còn lưu truyền cho đến tận ngày nay, gọi là pháp tu của Dòng phái Nyingma (Ninh mã), thuộc Phật giáo Mật tông Tây Tạng. Đối với Dòng phái Ninh mã, Thầy tu không có phối ngẫu (gọi nôm na là thầy tu không có vợ) gọi là lạt ma tăng sĩ; Thầy tu có phối ngẫu tâm linh (gọi nôm na là thầy tu có vợ) gọi là lạt ma cư sĩ. Dầu tu pháp dành riêng cho tăng sĩ, hay cư sĩ đều đạt được giải thoát. Ở Tây Tạng, người dân gọi vị thầy dạy đạo là Đạo sư, họ không quan tâm đến hoàn cảnh của vị thầy, chỉ chú trọng đến nội lực tâm linh, khả năng giáo hoá của vị ấy. Đã có rất nhiều Cư sĩ chứng ngộ và xiển dương chánh pháp khắp nơi mà cụ thể là Đạo sư Cư sĩ Marpa…

 (Đạo sư Cư sĩ Marpa)

Vào thế kỷ thứ XI, ở Tây Tạng lộ xuất một đại hành giả Du gia (cách gọi những ai tu Mật tông) là Cư sĩ Marpa. Ngài sống đời sống gia chủ, có một minh phi và một người con trai. Sự chứng ngộ và công hạnh của ngài khiến những ai tu hành đều bái ngưỡng. Trong bài ca chứng ngộ của mình gọi Dohas, ngài hát rằng: “Ngoài thời thiền, với 4 động tác đi, đứng, nằm, ngồi vẫn không gián đoạn trong 3 thời, như một dòng sông không ngừng lưu chảy mãi. Pháp tu này gọi là thanh trí, giải thoát khỏi vô minh. Không xao lãng, đó chính là thiền!”. Thầy gọi đó là pháp tu thanh trí mà Thầy đã nhiều năm thực hành, ứng dụng, giáo hoá, xiển dương.

ẨN SĨ GIỮA ĐỜI THƯỜNG

 (Ẩn sĩ giữa đời thường – Đạo sư Nguyên Thành)

Tôi nghe Thầy kể cảm thấy mừng thầm vì từ đây tôi có cơ hội học thiền tập với đời sống phàm tục có những sinh hoạt thường nhật trong những quan hệ gia đình, xã hội chằng chịt. Mật Hải là chồng của Mật Thuỷ cũng cho biết thêm, Mật gia Song Nguyễn, chứ không đơn Nguyễn, ngụ ý rằng Thầy thường chú trọng đến hạnh phúc gia đình của học trò. Những ai làm học trò đã có vợ chồng rồi, Thầy hướng dẫn nối kết truyền thông với nhau bằng cách bảo đôi vợ chồng phải dành một tuần có một lần đi cafe. Qua đó, họ có cơ hội để hiểu nhau, thông cảm nhau, yêu thương nhau hơn, mà ở trong nhà vướng bận gia tộc, con cái, khó tạo được điều kiện này. Thầy không dạy giáo pháp thêm cho những cặp đôi cho đến khi họ được có hạnh phúc, hoặc chí ít là đồng thuận trong gia đình.

Mật Hải còn cho biết, “Cà phê tuần” hiện là thanh quy của Mật gia Song Nguyễn dành cho đôi vợ chồng nào chưa được hạnh phúc. Sở dĩ có được quy định này là do Thầy ra tỉnh Phú Yên, thấy đôi vợ chồng Mật Nhu- Mật Hương và Mật Tính- Mật Lưu đang trục trặc, nguy cơ rạn nứt chực chờ; Thầy liền buộc họ phải thực hiện “Cà phê tuần”, song song với thực hành giáo pháp thanh trí bằng thiền thần chú. Bên cạnh đó, Thầy thỉnh thoảng gọi điện nhắc nhở, và giáo huấn thêm những điều cần thiết trong đời sống lứa đôi mà Thầy đang trải nghiệm hạnh phúc. Nhờ vậy, chỉ 5 tháng sau, đời sống họ trở nên hoà thuận cho đến hôm nay. Từ kinh nghiệm này, Thầy tiếp tục hướng dẫn những cặp đôi khác.

Chúng tôi dừng câu chuyện vì bữa trưa bắt đầu. Thầy mời học trò và tôi vào bàn. Cơm canh chỉ là đồ chay. Sẵn dịp, tôi hỏi Thầy trường chay hay thế nào? Thầy mĩm cười cho biết, bên trong Mật gia thì ăn chay, ở ngoài tuỳ theo hoàn cảnh mà dùng, không nên bị câu thúc bởi thức ăn là thế nào, mà là cách ăn như thế nào để gọi là tinh thần của Phật tử: “Đơn sơ với thức ăn, đơn sơ với chỗ thuốc men, đơn sơ với chỗ nằm, đơn sơ với chỗ nghỉ”.  Nhân đó, Thầy cho biết, sự thọ lạc (tức là trong đó hưởng thụ những gì thuộc về tài, sắc, danh, thực, thuỳ) có nghĩa là tiền tài, sắc đẹp, danh lơi, ăn uống, nghỉ ngủ ở thế gian…,  đều thọ nhận, thọ dụng, nhưng không bám chấp, không để mình bị chúng ràng buộc, sai sử. Đây là sự thọ lạc phù hợp với cư sĩ có đời sống thế tục, đang tu tập chánh pháp.

Dường như những người có đạo tâm, nhưng không hiểu cội nguồn của bất mãn thường nhầm lẫn xả ly dục lạc, như một sự chối bỏ hay trốn tránh nó, nhằm tìm “an lạc” cụ thể là “cái ăn”, sau đó là “cái mặc”, và cuối cùng là mong rời bỏ “môi trường sống” ồn náo, chuyển về chỗ thôn quê hoặc nơi cận sơn hẻo lánh. Giả sử vì sợ mùi xú uế của đống rác lớn, ta dọn nhà đến ở gần đống rác nhỏ, lúc ấy có thể nào thoát được ảnh hưởng? Hoặc chúng ta bỏ phố vào núi rồi tuyên bố : “Tôi chối bỏ hoàn toàn đời sống trần tục” . Xa rời như vậy cũng có thể gọi là LY, chứ không phải là XẢ!  Cá biệt, một số Phật tử khi “xả ly” như vậy gây ảnh hưởng hoà khí gia đình, trong quan hệ chồng vợ. Họ chưa thể có tinh thần “tuỳ thuận chúng sanh” mà chỉ khư khư nắm giữ “kiến chấp” của mình mà cho đó là đúng chánh kiến. Thực ra đây chỉ là sự phơi bày phiến diện trong bức tranh giáo điển toàn cục của Phật giáo, nhất là ở phương diện cảm thọ ngũ dục, và sâu xa hơn nữa là lạc thọ.

Đạo sư Mật giáo người Ấn Độ là một đại thành tựu giả, ngài có đời sống thường nhật kỳ lạ. Ban ngày ngài làm nghề giã mè, xay bột, ban đêm ngài làm tên dắt mối cho dâm nữ, ngài dùng thức ăn là lòng cá thối còn sống. Thế nhưng ngài Tilopa vượt qua mọi suy diễn đời thường của thế gian, để lại một đệ tử kiệt xuất, là sư phụ về sau của Cư sĩ thành tựu giả Marpa là ngài Naropa. Về phương diện thọ lạc, Tilopa nổi tiếng với lời dạy trực tâm cho ngài Naropa được diễn giải trên nền tảng Mật thừa là: “Ngũ dục tự chúng không gây ra tai hại, lỗi lầm là ở chổ thái độ của người thọ lạc đối với chúng!”.

         (Quán Âm Tứ Thủ – Phật giáo Tây Tạng)

Trong tác phẩm “Quán Thế Am Bồ tát tín luận” Hải Tín Cư sĩ khẳng định : “ Có tiền là có quyền hưởng sự sung sướng của vật chất. Có danh phận là có quyền hưởng sự kính trọng của người đời. Pháp Quán Thế Am Bồ tát (tức là niệm tôn hiệu, trì niệm thần chú của Ngài) không phải tạo ra một tinh thần bi quan hay lạc quan. Người tu biết rõ vị trí của mình ở trong đời, nên sống với những gì mà mình có được và hưởng những gì mà mình có quyền hưởng.

Nằm trên một tấm nệm êm, người tu cũng được hạnh phúc của cảm giác êm ái. Dùng một món ăn, người tu cũng được hạnh phúc của cái vị ngon.

Đạo lực của mình chỉ được đem ra dùng là khi nào mất tấm đệm và không có món ăn ngon.

Người tu cũng có vợ chồng, nhưng không vì sự dục lạc của dâm mà phạm điều ác.

Người tu cũng có gia đình, nhưng không vì gia đình mà mất cái điều thiện của mình.

Người tu cũng có nghề nghiệp, nhưng không vì nghề nghiệp của mình mà làm hại kẻ khác.

Tu là chánh đạo các nghịch tưởng nơi tâm mình (ý là hướng những niệm tưởng của mình theo quỹ đạo chánh pháp). Vì sao? Có nghịch tưởng là tâm không được an ổn. Tạo nghịch tưởng là mình hưởng những gì không thuộc quyền sở hữu chân chánh của mình.

Còn ở trong thuận cảnh, là mình tự do tha hồ mà hưởng. Thuận cảnh là gì? Thuận cảnh là cảnh mà ở trong đó mình hưởng những gì mà mình có quyền hưởng. Có quyền hưởng nghĩa là hưởng với một tinh thần tự tại và thư thái.

Vì nghĩa tu như thế nên người hành đạo hằng vui chớ không có buồn, hằng an lạc chớ không có khổ. Bởi cớ sao? Pháp tu không ngăn cản người hưởng những dục lạc của đời đem đến, mà chỉ giải thoát cho người những gì gọi là khổ mà thôi:…

Từ đó suy ra, để thành tựu công cuộc chuyển hoá tâm từ dục lạc thành an lạc,  chúng ta không phải rời xa dục lạc mà phải thay đổi thái độ đối với chúng. Chúng ta cũng nên hiểu rằng những động lực trong đời sống và động lực của từng hành động mới là những nguyên nhân thúc đây, hành động tự nó không là gì cả. Hành động chỉ là những gì chúng ta đang làm ở bên ngoài, cái gì ẩn sâu ở bên trong mới thực sự là nguyên nhân chuyển động, cái đó làm cho hành động trở thành tốt hay xấu (trích tác phẩm “Ánh sánh đạo pháp” của lama Yeshe).

Do vậy, điểm quan trọng cần nhấn mạnh ở đây là sử dụng mà không nên lạm dụng. Lạm dụng tức là bám chấp. Tất cả những bám chấp đều gây ra hậu quả, kể cả bám chấp vào giáo điển của Phật môn.

Tôi từ giã Thầy ra về, nghiền ngẫm những gì đã được nghe, liền hiểu vì sao Thầy cất cao tiếng hát không chút do dự với tâm nguyện từ bi đem ý nghĩa đạo Phật đến mọi người. Vì sao Thầy đến cà phê dùng điểm tâm mặn cùng học trò? Vì sao Thầy luôn sánh đôi với người phối ngẫu của mình ở mọi nơi? Vì sao những cặp đôi vợ chồng là học trò Thầy đều được hạnh phúc? Vì sao Cô Mật Diệu, người phối ngẫu tâm linh của Thầy dạy các học trò nữ đánh đàn, may vá, hát những bài đạo ca do Cô chuyển ngữ? Có lẽ, ngoài đời Thầy chỉ là vị người lớn tuổi bình thường như bao người khác, nhưng ẩn tàng trong Thầy lòng từ bi vô bờ, một phương pháp hoá giải nội kết đơn giản, gọi là thanh trí bằng thần chú lục tự đại minh. Giờ thì tôi hiểu thế nào là một người được gọi là Đạo sư.  Tôi sẽ xin làm học trò của Thầy. Thầy ơi, con mừng quá!

                                                LÊ QUỐC VIỆT

03/12/2012

Comments are closed.

DMCA.com Protection Status